Xuất khẩu nông, thủy sản và nhiên liệu khoáng sản sụt giảm mạnh nhất trong 8 tháng

(ĐTCK) Bộ Công thương cho biết trong tháng 8/2020, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng so với cùng kỳ năm 2019 nhưng xét tới các nhóm hàng, mặt hàng chính vẫn cho thấy sự khó khăn nhất định.

Cụ thể, so với tháng 8/2019, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng chủ yếu đến từ đà tăng trưởng cao của một số mặt hàng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với mức tăng 15%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 43,6%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 21,7%.

Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực khác vẫn sụt giảm so với cùng kỳ năm 2019 như: điện thoại các loại và linh kiện giảm 10,2%; hàng dệt và may mặc giảm 10,9%, giày dép các loại giảm 11%; xơ, sợi, dệt các loại giảm 14,8%...

Một số mặt hàng nông, thủy sản cũng ghi nhận sự sụt giảm như: thủy sản giảm 1,2%; hạt điều giảm 16,5%; cà phê giảm 0,2%; chè các loại giảm 6,5%; hạt tiêu giảm 3,8%...

Trong tháng 7 và tháng 8/2020, riêng xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện đều tăng trưởng cao ở mức hai con số so với tháng trước (tăng 17,5% trong tháng 7/2020 và tăng 23,7% trong tháng 8/2020) do Samsung cho ra mắt mẫu điện thoại thông minh mới Galaxy Note20 và chính thức bán ra toàn cầu trong tháng 8/2020.

Tính trong 8 tháng đầu năm, xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản và nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản sụt giảm mạnh nhất, ước đạt 2,013 tỷ USD, giảm 34,5%.

Trong nhóm hàng này, dầu thô là mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất với 3,35 triệu tấn, trị giá 1,109 tỷ USD, tăng 22,4% về lượng nhưng giảm 21,2% về trị giá do giá giảm.

Trái lại, chỉ có nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 2,3% so với cùng kỳ, ước đạt 147,096 tỷ USD, chiếm 84,5% tổng kim ngạch xuất khẩu chung.

Trong đó, ngành sản xuất điện tử vẫn duy trì là động lực tăng trưởng xuất khẩu cho ngành chế biến chế tạo với sự chuyển dịch tăng trưởng từ điện thoại các loại và linh kiện sang xuất khẩu nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện (tăng 24,8%).

Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác cũng tăng mạnh 31,9%, đạt 15,05 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng 9,6%, đạt 7,32 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu sắt thép các loại tăng 5,7%...

Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng của một số mặt hàng khác trong nhóm hàng này so với cùng kỳ lại giảm như điện thoại các loại và linh kiện giảm 5,5%; hàng dệt và may mặc giảm 11,6%; giày dép các loại giảm 8,6%; xơ, sợi, dệt các loại giảm 19,4%; túi xách, ví, vali, mũ, ô dù giảm 15,6%...

Xét về thị trường xuất khẩu, theo Bộ Công thương, hiện nay, dịch bệnh Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia EU, Hoa Kỳ, Ấn Độ… Một số nước khi dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp, mở cửa biên giới lại phải đối mặt với làn sóng Covid-19 thứ hai quay trở lại đã ảnh hưởng bất lợi tới các hoạt động kinh tế, đặc biệt là hoạt động thương mại.

Trong 8 tháng năm 2020, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 46,7 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 27 tỷ USD, tăng 13%.

Thị trường EU đạt 22,9 tỷ USD, giảm 4%. Thị trường ASEAN đạt 15 tỷ USD, giảm 13,6%. Hàn Quốc đạt 12,6 tỷ USD, giảm 1,5%. Nhật Bản đạt 12,5 tỷ USD, giảm 6,1%.

Trong 8 tháng có 27 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trong đó: Điện thoại và linh kiện đạt 31,5 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 27,6 tỷ USD, tăng 24,8%; hàng dệt may đạt 19,2 tỷ USD, giảm 11,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,1 tỷ USD, tăng 31,9%; giày dép đạt 10,9 tỷ USD, giảm 8,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,3 tỷ USD, tăng 9,6%; thủy sản đạt 5,2 tỷ USD, giảm 5,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 5,2 tỷ USD, giảm 9,5%.

Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, rau quả đạt 2,3 tỷ USD, giảm 11,3%; hạt điều đạt 2 tỷ USD, giảm 5,4% (lượng tăng 9%); cà phê đạt 2 tỷ USD, giảm 1,3% (lượng giảm 1,3%); cao su đạt 1,2 tỷ USD, giảm 12,7% (lượng giảm 5,9%); hạt tiêu đạt 445 triệu USD, giảm 20% (lượng giảm 7,4%); chè đạt 134 triệu USD, giảm 6,2% (lượng tăng 3,5%). Riêng sản phẩm gạo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10,4% (lượng giảm 1,7%).

Tin bài liên quan

VNIndex

912.5

4.23 (0.46%)

 
VNIndex 912.5 4.23 0.46%
HNX 133.12 1.6 1.2%
UPCOM 61.29 0.0 0.0%