Bất cập thuế đối với đầu tư trái phiếu của tổ chức nước ngoài

(ĐTCK) Gần đây, Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn được các tổ chức nước ngoài lựa chọn để đầu tư gián tiếp thông qua trái phiếu, thay vì trở thành cổ đông để đảm bảo lợi ích đầu tư (nhận lãi cố định bất kể tình hình tài chính của chủ thể nhận đầu tư).

Các tổ chức nước ngoài sẽ nhận hai nguồn thu nhập chính từ hoạt động đầu tư trái phiếu, bao gồm tiền lãi và tiền nợ gốc được hoàn trả. Theo đó, họ sẽ phải chịu thuế nhà thầu nước ngoài, bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng đối với phần thu nhập trên tại Việt Nam.

Trong đó, lãi từ đầu tư trái phiếu được xem như “thu nhập từ lãi vay” và chịu thuế nhà thầu nước ngoài với mức 5% thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn thuế giá trị gia tăng. Trong khi đó, nợ gốc trái phiếu được hoàn trả bằng với mệnh giá sẽ không chịu thuế vì không phát sinh thu nhập.

Tuy nhiên, các quy định hiện tại về thuế nhà thầu nước ngoài chưa đưa ra các hướng dẫn rõ ràng về việc khấu trừ thuế trong trường hợp phát sinh lợi nhuận khi hoàn trả nợ gốc trái phiếu (tức hoàn trả nợ gốc với giá trị cao hơn mệnh giá). Theo đó, cơ quan thuế có thể xem thu nhập từ hoàn trả nợ gốc trái phiếu (cao hơn mệnh giá) như “thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán” hoặc “thu nhập từ lãi vay”.

Lý do là định nghĩa thu nhập “chuyển nhượng chứng khoán” theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp quy định bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác.

Vì thế, hoàn trả nợ gốc trái phiếu có thể được xem như giao dịch chuyển nhượng trái phiếu từ người nắm giữ sang người phát hành và do đó chịu thuế nhà thầu nước ngoài, bao gồm 0,1% thuế thu nhập doanh nghiệp trên giá chuyển nhượng và được miễn thuế giá trị gia tăng.

Mặc khác, do trái phiếu có tính tương đồng về bản chất với lãi tiền vay, nên bất kỳ khoản lợi nhuận từ chênh lệch nào (chênh lệch giữa giá hoàn trả và chi phí mua trái phiếu) đều có thể được xem như thu nhập từ lãi tiền vay hơn là thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán.

Thu nhập từ lãi tiền vay bao gồm thu nhập bên cho vay nhận được dưới mọi hình thức khoản vay, thu nhập từ lãi tiền gửi, thu nhập từ lãi thanh toán trả chậm theo hợp đồng, thu nhập từ lãi trái phiếu, chiết khấu giá trái phiếu và thu nhập từ chứng chỉ tiền gửi.

Trong đó, thu nhập từ chiết khấu giá trái phiếu nghĩa là trái phiếu được phát hành dưới mệnh giá và được hoàn trả theo mệnh giá. Theo đó, thu nhập trên sẽ chịu thuế nhà thầu nước ngoài như thu nhập từ lãi tiền vay với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 5% trên phần chênh lệch giữa giá chiết khấu và mệnh giá và được miễn thuế giá trị gia tăng.

Quy định không rõ ràng cũng có thể dẫn đến khả năng áp dụng thuế suất tương tự cho hoạt động hoàn trả nợ gốc trái phiếu cao hơn mệnh giá như thuế suất đã được áp dụng cho trường hợp thu nhập từ chiết khấu giá trái phiếu.

Hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về mức thuế đối với các trường hợp nêu trên do cơ sở để quyết định mức thuế còn phụ thuộc vào số lãi nhận được và tổng tiền thu được trên mỗi giao dịch.

Với ví dụ cụ thể dưới đây, trong trường hợp hoàn trả nợ gốc trái phiếu cao hơn mệnh giá, khi so sánh số thuế phải nộp khi áp dụng cả hai mức thuế suất đề cập ở trên, ta dễ dàng nhìn thấy mức thuế dựa trên quy định về chuyển nhượng chứng khoán sẽ có lợi hơn cho các tổ chức nước ngoài (xem bảng).

ảnh 1

Việt Nam áp dụng cơ chế tự khai tự nộp, người nộp thuế tự xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất áp dụng; sau đó kê khai và nộp thuế trực tiếp vào ngân sách nhà nước.

Cơ quan thuế chỉ thực hiện thanh tra thuế theo lịch trình và có quyền truy thu bất kỳ khoản thuế khai báo sai hoặc thiếu nào, kèm theo xử phạt vi phạm hành chính là 20% trên số thuế khai báo thiếu; hoặc 1 đến 3 lần đối với hành vi trốn thuế và lãi phạt chậm nộp 0,03%/ngày.

Do vậy, nhằm tránh việc kê khai sai do quy định chưa rõ ràng đối với hoàn trả nợ gốc trái phiếu cao hơn mệnh giá, việc xin hướng dẫn cụ thể từ cơ quan thuế địa phương nên được thực hiện.

Mặc dù quy mô của thị trường Việt Nam nhỏ hơn so với các nước trong khu vực, nhưng cho thấy một tốc độ phát triển đầy hứa hẹn trong tương lai.  Do đó, việc xem xét tác động thuế và phân tích hệ quả của nó đối với các loại trái phiếu chính sẽ giảm thiểu được rủi ro tiềm ẩn khi thực hiện hoàn trả nợ gốc trái phiếu.

Tin bài liên quan

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu