Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết riêng về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia

Nghị quyết số 55-NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Bộ Chính trị ban hành có đặt ra mục tiêu xoá bỏ mọi rào cản để bảo đảm giá năng lượng minh bạch do thị trường quyết định; không thực hiện bù chéo giá điện giữa các nhóm khách hàng, giữa các vùng, miền.

10 năm đã đầu tư 2,1 triệu tỷ đồng vào năng lượng

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 18 - NQ/TW (ngày 25/10/2007) của Bộ Chính trị khoá IX về “Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, ngành năng lượng nước ta đã có bước phát triển mạnh, tương đối đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực và phân ngành năng lượng, phù hợp với các định hướng đề ra.

Về cơ bản, đã bám sát thực hiện 06 nội dung chính trong mục tiêu tổng quát, đạt 8/11 mục tiêu cụ thể đến năm 2010 và ước đạt đến năm 2020.

Trong giai đoạn 2007-2017, tổng cung cấp năng lượng sơ cấp trong nước liên tục tăng trưởng, bình quân đạt 4,64%/năm, vượt mục tiêu kế hoạch cho năm 2010 và đạt khoảng 72% mục tiêu kế hoạch đến năm 2020. Trong đó, tổng công suất các nguồn điện tăng 3,36 lần, tổng sản lượng điện tăng 2,88 lần.

Các chỉ tiêu về độ tin cậy cung cấp điện theo chuẩn quốc tế đã được cải thiện tích cực. Đã tích cực thực hiện mục tiêu đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, khai thác than và dầu khí trong và ngoài nước. Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc - hoá dầu phát triển mạnh; sản lượng khai thác dầu khí đạt trung bình 28,07 triệu TOE/năm.

Công suất lọc dầu đạt 16,5 triệu tấn, đạt khoảng 66% mục tiêu đề ra cho năm 2020; khả năng dự trữ xăng dầu đạt 63 ngày vượt mục tiêu tới năm 2020.

Sản lượng khai thác than thương phẩm đạt trung bình 41,87 triệu tấn/năm; đã đầu tư xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất lớn (lộ thiên từ 1,5 - 4,5 triệu tấn/năm, hầm lò từ 1,0 - 3,5 triệu tấn/năm).

Năm 2017 sản lượng thủy điện tăng khoảng 3,5 lần so với năm 2007. Năng lượng gió, năng lượng mặt trời được chú trọng và đã có bước phát triển vượt bậc trong những năm gần đây; năm 2019, đạt tổng công suất lắp đặt khoảng 5.000 MW, tương ứng khoảng 10% tổng công suất lắp đặt của hệ thống.

ảnh 1
Kéo điện về vùng sâu, vùng xa

Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo được nhân dân và quốc tế đánh giá cao. Đến hết năm 2017, các mục tiêu về tiếp cận điện năng đến năm 2020 đã hoàn thành với 99,98% số xã và 98,83% số hộ dân nông thôn trong cả nước có điện, 12 huyện đảo đã có điện lưới và điện tại chỗ.

Trong 10 năm qua, tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp đã tăng gần 1,63 lần, tổng tiêu thụ điện tăng 2,86 lần. Tỷ trọng tiêu thụ năng lượng cuối cùng theo ngành kinh tế tăng trưởng mạnh ở khu vực công nghiệp và giao thông vận tải.

Các hoạt động về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được đẩy mạnh thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia với sự phối hợp tích cực giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng đạt 3,4% (tương đương 4,9 triệu TOE) trong giai đoạn 1 và đạt 5,65% (tương đương 11,3 triệu TOE) trong giai đoạn 2.

Ngành năng lượng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong thực hiện lộ trình chuyển ngành điện, than, dầu khí sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Giá xăng dầu trong nước cơ bản theo sát giá thị trường quốc tế. Đã bước đầu hình thành thị trường phát điện và bán buôn điện; giá điện được điều chỉnh phản ánh sát hơn chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí thực hiện chính sách xã hội.

Trong giai đoạn 2007-2017, tổng đầu tư vào ngành năng lượng đạt khoảng 2,1 triệu tỷ đồng, chiếm 18,4% tổng đầu tư toàn xã hội (khoảng 11,4 triệu tỷ đồng), trong đó đầu tư của các doanh nghiệp năng lượng Nhà nước là chủ yếu.

Các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước cũng tích cực tham gia đầu tư vào ngành năng lượng với nhiều hình thức; từng bước khẳng định vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nước đối với phát triển năng lượng, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh; công suất phát điện được tư nhân trong và ngoài nước đầu tư chiếm khoảng 28% tổng công suất.

Các doanh nghiệp năng lượng Nhà nước đã có bước phát triển mạnh mẽ, phát huy vai trò trụ cột trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Vốn chủ sở hữu của 4 tập đoàn: Điện lực Việt Nam (EVN), Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) bình quân tăng 3,48 lần, tổng tài sản tăng 3,65 lần, doanh thu tăng 3,23 lần, lợi nhuận tăng 2,26 lần, nộp ngân sách Nhà nước tăng 1,68 lần.

Dẫu vậy có tới 3/6 chỉ tiêu chủ yếu đánh giá đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đang biến động theo chiều hướng bất lợi.

Đó là, tỷ số trữ lượng và sản xuất than, dầu và khí tự nhiên ngày càng giảm; sự phụ thuộc vào nhập khẩu than, dầu và khí tự nhiên ngày càng tăng và tỷ trọng chi phí nhập khẩu than, dầu và khí tự nhiên trong tổng thu nhập quốc nội ngày càng tăng.

Từ năm 2015, Việt Nam đã trở thành nước phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu tịnh với tỷ lệ 18,3% vào năm 2017 (nhập khẩu 13,2 triệu TOE) và có xu hướng tăng lên trong dài hạn.

Tài nguyên năng lượng sơ cấp về thủy điện về cơ bản đã khai thác hết. Sản lượng dầu và khí ở một số mỏ lớn sau thời gian dài khai thác đã suy giảm nhanh, việc phát triển mỏ mới trên Biển Đông gặp nhiều khó khăn.

Tuy trữ lượng than còn nhiều nhưng chưa khai thác triệt để do công nghệ còn lạc hậu và điều kiện khai thác ngày càng khó khăn làm tăng giá thành. Một số dự án nguồn điện chưa đưa vào vận hành do chậm tiến độ và chậm khởi công so với quy hoạch, hoặc dừng triển khai.

Cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý

Trước thực tế nhu cầu tiêu thụ năng lượng trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng dẫn đến sự cạnh tranh các nguồn nhiên liệu nhập khẩu. Năng lượng trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị của các nước trên thế giới.

Mục tiêu được đặt ra trong Nghị quyết số 55/NQ-TW là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

ảnh 2
Dự án điện mặt trời Đa Mi

Ngành năng lượng cũng được yêu cầu phát triển hài hoà giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước kết hợp với xuất, nhập khẩu năng lượng hợp lý; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại.

Để đạt được các mục tiêu này, Nghị quyết 55/NQ-TW cũng đề ra hàng loạt giải pháp chủ yếu.

Đơn cử như đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; nâng cao hệ số thu hồi, tận thu các mỏ nhỏ, khối sót cận biên. Rà soát, có chiến lược chủ động và hiệu quả trong hợp tác về tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài. Phát triển công nghiệp khí; ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhập khẩu và tiêu thụ khí tự nhiên hoá lỏng (LNG).

Ở ngành than cũng được yêu cầu xây dựng mới chiến lược phát triển ngành than gắn với nhiệm vụ đầu tư hiệu quả ra nước ngoài và nhập khẩu than dài hạn. Thực hiện dự trữ than phù hợp, đáp ứng yêu cầu cho các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất điện. Mở rộng tìm kiếm, thăm dò, nâng cao chất lượng công tác đánh giá các cấp trữ lượng và tài nguyên. Đẩy mạnh khai thác than trong nước trên cơ sở bảo đảm an toàn, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên; khẩn trương nghiên cứu công nghệ để có thể khai thác bể than đồng bằng Sông Hồng; nâng cao hệ số thu hồi than sạch trong khai thác hầm lò.

Rà soát, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tối ưu hoá các giải pháp cung cấp than ổn định cho sản xuất điện phù hợp với cơ chế thị trường.

Năng lượng tái tạo cũng được yêu cầu xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch. Ưu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện; khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy điện sử dụng rác thải đô thị, sinh khối và chất thải rắn đi đôi với công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn. Hình thành và phát triển một số trung tâm năng lượng tái tạo tại các vùng và các địa phương có lợi thế. Sớm nghiên cứu, đánh giá tổng thể về tiềm năng và xây dựng định hướng phát triển năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thuỷ triều, hải lưu; triển khai một số mô hình ứng dụng, tiến hành khai thác thử nghiệm để đánh giá hiệu quả. Thực hiện nghiên cứu công nghệ, xây dựng một số đề án thử nghiệm sản xuất và khuyến khích sử dụng năng lượng hydro phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Riêng với ngành điện, nhiệm vụ đặt ra cũng không kém phần nặng nề với việc phát triển nhanh và bền vững các nguồn phát điện với cơ cấu và phân bố hợp lý, bảo đảm an toàn, tin cậy, ổn định theo hướng đa dạng hoá, chú trọng nâng cao hệ số công suất khả dụng và có dự phòng công suất phù hợp; đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sinh thái.

Ngoài ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với khả năng bảo đảm an toàn hệ thống với giá thành điện năng hợp lý, việc phát triển các dự án nhiệt điện sẽ theo hướng đồng bộ từ khâu cung ứng, lưu trữ nhiên liệu và xây dựng nhà máy trên cơ sở giá bán điện xác định thông qua đấu thầu.

Cụ thể, ngoài ưu tiên sử dụng nguồn khí trong nước, nguồn điện khí LNG sẽ được chú trọng phát triển nhanh và dần trở thành nguồn cung cấp điện năng quan trọng, hỗ trợ cho điều tiết hệ thống.

Để triển khai đầu tư được các nguồn năng lượng và điện theo các mục tiêu đặt ra, Nghị quyết cũng chỉ rõ phải nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế tài chính và huy động vốn đặc biệt cho đầu tư phát triển ngành điện. Rà soát, điều chỉnh các quy định về kiểm soát và điều phối thị trường điện lực. Có cơ chế cho phép phát triển các nhà máy điện sản xuất tại chỗ, tự cung cấp trong các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất...

Cạnh đó, đẩy nhanh lộ trình thực hiện thị trường điện cạnh tranh, cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp giữa nhà sản xuất và khách hàng tiêu thụ, cơ chế đấu thầu, đấu giá cung cấp năng lượng phù hợp, đặc biệt trong các dự án đầu tư năng lượng tái tạo, năng lượng mới; minh bạch giá mua bán điện. Có cơ chế khuyến khích thu hút vốn ngoài nhà nước đầu tư xây dựng vào hệ thống truyền tải điện quốc gia. Điểm cũng được đặc biệt chú ý là hệ thống truyền tải điện quốc gia sẽ được vận hành độc lập dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

Một số mục tiêu cụ thể được đề ra trong Nghị quyết số 55/NQ-TW

- Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, đáp ứng cho các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021 - 2030; trong đó, năng lượng sơ cấp đến năm 2030 đạt khoảng 175 - 195 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), đến năm 2045, đạt khoảng 320 - 350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện đến năm 2030 đạt khoảng 125 - 130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550 - 600 tỉ KWh.

- Tỉ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 - 20% vào năm 2030; 25 - 30% vào năm 2045.

- Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đến năm 2030 đạt mức 105 - 115 triệu TOE, năm 2045 đạt mức 160 - 190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp năm 2030 đạt từ 420 - 460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375 - 410 kgOE/1.000 USD GDP.

- Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Đến năm 2030, độ tin cậy cung cấp điện năng thuộc tốp 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN.

- Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; bảo đảm mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) khoảng 8 tỉ m3 vào năm 2030 và khoảng 15 tỉ m3 vào năm 2045.

- Tỉ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 7% vào năm 2030 và khoảng 14% vào năm 2045.

- Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15% vào năm 2030, lên mức 20% vào năm 2045.
Tin bài liên quan

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu