Thị trường hàng hóa tuần 18-25/9: Đồng USD “làm loạn”

(ĐTCK) Việc USD có tuần tăng giá mạnh nhất kể từ tháng 4/2020 khiến giá mặt hàng kim loại và nông sản trên thị trường hàng hóa quốc tế đồng loạt giảm trong tuần qua, trong khi nguyên liệu công nghiệp trở thành điểm sáng.
Ảnh Internet

Ảnh Internet

Kim loại: Bạch kim, bạc cùng giảm mạnh nhất trong hơn 6 tháng

Phiên cuối tuần 25/9, tại sàn Thượng Hải, giá đồng kỳ hạn tháng 11/2020 giảm 0,2% xuống mức 7.447,2 USD/tấn (tương tương 50.740 CNY/tấn) trước số liệu tồn trữ kim loại hàng tuần từ nước tiêu thụ lớn nhất là Trung Quốc.

Tuy nhiên, trên sàn London, đồng tăng giá 0,2% lên mức 6.535 USD/tấn. Trong phiên trước đó, giá đồng giảm về mức 6.449 USD/tấn - thấp nhất trong 1 tháng. Giá đồng giao sau 3 tháng tăng 0,7% lên 6.570 USD/tấn. Dù vậy, tính cả tuần, đồng vẫn giảm 1,63% so với tuần trước đó.

Giá bạch kim trên sàn NYMEX cũng giảm liên tục trong 4 phiên đầu tuần, trước khi hồi nhẹ trong phiên cuối tuần 25/9, đạt mức giá 838,7 USD/ounce. Tổng cộng cả tuần giảm 10,24%.

Giá bạc cũng giảm tới gần 16,9% xuống mức 23,02 USD/ounce trong tuần qua. Nhìn chung, bạch kim và bạc cùng có tuần giảm mạnh nhất kể từ ngày 20/3/2020.

Tương tự, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2021 trên sàn Đại Liên cũng có tuần giảm mạnh nhất kể từ ngày 28/2/2020 xuống mức 765 CNY/tấn (112,28 USD/tấn), tương ứng giảm 4,64% bởi mối lo về nhu cầu suy yếu khi công suất sản xuất tại các nhà máy thép Trung Quốc giảm mạnh.

Trên sàn Thượng Hải, giá thép cây giảm 0,7% xuống 3.522 CNY/tấn (516,92 USD/tấn), giá thép cuộn cán nóng giảm 0,3% xuống 3.660 CNY/tấn (3537,18 USD/tấn). Giá thép không gỉ kỳ hạn tháng 11/2020 tăng 1,1% lên 14.330 CNY/tấn (2.103,23 USD/tấn).

Nông sản: Tiếp đà điều chỉnh giảm

Giá ngô và đậu tương kết thúc tuần từ 18-15/9 bằng một phiên tăng nhờ cầu bắt đáy hoạt động tích cực sau 4 phiên giảm liên tiếp trước đó. Cụ thể, trên sàn Chicago, giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2020 tăng 2-1/2 US cent lên 10,02-1/2 USD/bushel, còn giá ngô kỳ hạn tháng 12/2020 tăng 1-3/4 US cent lên 3,65-1/4 USD/bushel.

Tuy nhiên, tính cả tuần, giá đậu tương vẫn giảm 4,67% - là tuần giảm mạnh nhất kể từ giữa tháng 3/2020, còn giá ngô giảm 3,5% - là tuần có mức giảm nhẹ nhất kể từ đầu tháng 4/2020.

Trong khi đó, giá lúa mì giảm trong phiên 25/9 do nguồn cung tại Mỹ trở nên đắt đỏ hơn đối với khách mua hàng vì USD tăng. Tính chung, giá lúa mì kỳ hạn tháng 12/2020 tuần qua giảm 5-1/2 US cent xuống 5,44-1/4 USD/bushel, tương ứng giảm 5,34%.

Nguyên liệu công nghiệp: Cao su, đường tiếp tục leo dốc, cà phê hồi phục nhẹ

Cao su có tuần tăng giá thứ 2 liên tiếp khi kết thúc tuần qua nhờ hoạt động mua mới được thúc đẩy do lo ngại nguồn cung bị thắt chặt. Kết thúc phiên 25/9, trên sàn OSE, giá cao su RSS3 kỳ hạn tháng 10/2020 đạt 1,95 USD/kg, tính cả tuần tăng 1,73%.

Trên sàn Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2021 tăng 265 CNY mỗi tấn, lên mức 12.635 CNY/tấn (1.854 USD/tấn).

Tương tự là đường, sau khi đạt mức cao nhất 1 tháng (13,57 US cent/lb) trong ngày 23/9, giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2021 trên sàn ICE tiếp tục leo lên 13,51 US cent/lb trong phiên cuối tuần qua, tương ứng tăng 1% và cả tuần tăng tổng cộng 1,8%.

Giá đường trắng kỳ hạn tháng 12/2020 trên sàn London cũng tăng 0,6% lên 376,5 USD/tấn.

Hòa cùng nhịp tăng chung, cà phê ghi nhận sự hồi phục nhẹ. Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2020 trên sàn ICE tăng 2,2% lên 1,1365 USD/lb vào ngày 25/9, hồi phục từ mức thấp nhất 2 tháng (1,0905 USD/lb) trong ngày 23/9. Tính cả tuần, cà phê arabica tăng 0,13%, trong khi tuần trước đó giảm hơn 14%.

Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2020 trên sàn London tăng 0,18% lên 1.358 USD/tấn.

Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 12/2020 trên sàn Bursa (Malaysia) tăng 1,05% lên 2.786 ringgit/tấn (tương đương 668,91 USD)/tấn trong phiên cuối tuần 25/9, sau khi giảm 4 phiên liên tiếp trước đó. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá dầu cọ giảm 9,5% - là tuần giảm mạnh nhất kể từ ngày 28/2/2020.

Thị trường hàng hóa tuần 18-25/9: Đồng USD “làm loạn” ảnh 1
Tin bài liên quan

VNIndex

946.47

-4.33 (-0.46%)

 
VNIndex 946.47 -4.33 -0.46%
HNX 137.13 -1.9 -1.39%
UPCOM 63.57 -0.34 -0.53%