Những kỳ vọng lớn ở đặc khu kinh tế

Những kỳ vọng lớn ở đặc khu kinh tế

(ĐTCK) Câu chuyện mời gọi lỡ dở nhà đầu tư tầm cỡ hàng đầu thế giới từ Hoa Kỳ tới Vân Đồn một lần nữa được đại diện chính quyền tỉnh Quảng Ninh đưa ra tại Hội thảo “Đặc khu - thể chế, chính sách và kỳ vọng thành công” vừa diễn ra như một bài học kinh nghiệm cho thấy, thể chế hoàn thiện, cơ sở hạ tầng vững chắc chính là yếu tố quyết định để thu hút nhà đầu tư chiến lược tới đặc khu.

Tập trung hoàn thiện chính sách

Ông Nguyễn Văn Thành, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, có 4 câu hỏi mà nhà đầu tư đặt ra cho chính quyền tỉnh tại đợt khảo sát năm 2013 và yêu cầu có câu trả lời ngay để đưa ra quyết định đầu tư.

Cụ thể, Chính phủ định hướng sẽ xây dựng bao nhiêu đặc khu, tại các vị trí nào? Bao giờ Việt Nam có luật về đặc khu với các chính sách và thể chế vượt trội, nền hành chính hiện đại đúng như tính chất của đặc khu đã được các nước trên thế giới áp dụng? Đâu là cơ quan đầu mối địa phương có đủ mọi thẩm quyền và khả năng giải quyết toàn bộ các vấn đề của nhà đầu tư tại một cửa duy nhất? Và bao giờ mới hoàn thiện được cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống hạ tầng giao thông kết nối bao gồm đường cao tốc, sân bay…?

Bên cạnh đó, nhà đầu tư còn yêu cầu chính quyền địa phương phải ký hợp đồng có cam kết rõ chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhà đầu tư về việc đảm bảo thực hiện đúng các cam kết này.

“4 câu hỏi kể trên vượt quá khả năng, quyền hạn của địa phương nên chúng tôi không thể trả lời được nhà đầu tư ngay lúc đó. Kết quả là lời mời nhà đầu tư chiến lược bất thành. Tuy nhiên, những yêu cầu này cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà đầu tư tới thể chế chính sách và cơ sở hạ tầng, vốn được coi là vấn đề nền tảng để thu hút nhà đầu tư chiến lược và sự vận hành thành công của đặc khu, thay vì các chính sách ưu đãi thuế, tài chính”, ông Thành nhận định.

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới cho biết, trên thế giới có hàng ngàn đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và các loại hình tương tự, nhưng chỉ có một vài cái tên thành công trong việc tạo ra các hoạt động kinh tế đáng kể.

Rút kinh nghiệm từ những trường hợp này, các đặc khu ở Việt Nam phải xây dựng theo chiến lược công nghiệp tổng thể, mạnh dạn trở thành “phòng thí nghiệm thể chế” với môi trường chính sách tốt, thay vì tạo lực hấp dẫn bằng các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế. Bởi như vậy sẽ dẫn đến “một cuộc đua xuống đáy” của hàng loạt các chính sách ưu đãi.

“Thay vì chạy theo việc cắt giảm khuôn khổ, xé rào chính sách để thu hút đầu tư bằng mọi giá, vốn có thể dẫn tới các hệ lụy tiêu cực cho kinh tế xã hội và môi trường, với thế mạnh về công nghiệp chế biến chế tạo và nguồn nhân lực dồi dào, Việt Nam phải tìm kiếm nguồn lực mới, theo đuổi chiến lược phát triển giá trị gia tăng trong xây dựng đặc khu kinh tế.

Đồng thời, tập trung vào mục tiêu tạo ra việc làm cho tương lai, cải thiện năng suất, sáng kiến về chi phí và lợi ích. Hơn nữa, cần tập trung vào trách nhiệm giải trình, không nên tập trung vào ưu đãi thuế, phải định hướng vào các ngành chiến lược và tránh phân mảnh chính sách”, ông Sebastian Eckardt khuyến nghị.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã rất thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài với gần 100 tỷ USD vốn nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp tính đến nay. Dẫu vậy, với gần 330 khu công nghiệp, chưa kể các khu công nghệ cao, khu kinh tế mở tập trung thu hút hầu hết nguồn lực của quốc gia, câu chuyện thành công của các khu công nghiệp hiện tại vẫn chưa phải là một cái kết hoàn hảo, bởi lẽ trong số đó, chỉ có 56% là thành công.

“Điều này cho thấy, chúng ta đã phát triển nhiều hơn so với yêu cầu. Các khu công nghiệp mới hiện nay được thiết kế từ dưới lên trên, có quá nhiều khu công nghiệp được thành lập ra nhưng chỉ dựa vào các nguồn lực cũ, không tìm được nguồn lực có giá trị gia tăng mới cho nền kinh tế trong tương lai. Đó là chưa kể vẫn có rủi ro gắn liền với việc phân mảnh trong môi trường pháp quy, lệ thuộc quá mức vào các ưu đãi và quản trị các đặc khu kinh tế”, đại diện Ngân hàng Thế giới phân tích.

Theo ông Sebastian Eckardt, để tối đa hóa lợi ích và hạn chế rủi ro, việc thành lập và thiết kế các đặc khu kinh tế nên được gắn chặt với chiến lược toàn diện về phát triển công nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tập trung việc lựa chọn vị trí, tính kết nối, dịch vụ hạ tầng và cải thiện môi trường kinh doanh…

Đồng quan điểm, ông Teo Eng Cheong, Tổng giám đốc Tập đoàn quản lý khu công nghiệp Surbana Jurong Sinhgapore cho rằng, đặc khu kinh tế sẽ tồn tại hàng thập kỷ và lợi ích của nó có thể chỉ thấy được sau nhiều năm. Do đó, công tác quản lý dài hạn ở đặc khu kinh tế cần phải hiệu quả. Việc đặc khu kinh tế có tầm nhìn rõ ràng, thay đổi chính sách táo bạo, lựa chọn địa điểm cẩn thận, thiết kế thông minh và quản lý chặt chẽ sẽ là một cơ hội tốt để thành công.

Chủ động xây dựng “sân chơi mới”

Khẳng định rõ chủ trương thành lập và phát triển 3 đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc đã thể hiện sự nhất quán và quan tâm của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đối với mô hình này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, Việt Nam đã mạnh dạn, chủ động xây dựng một "sân chơi mới", luật chơi mới với những thể chế chính sách vượt trội, cạnh tranh để thu hút đầu tư trong nước và quốc tế ngay tại lãnh thổ Việt Nam.

Theo Bộ trưởng, các đặc khu được định hướng phát triển với mục tiêu hình thành 3 khu vực tăng trưởng kinh tế cao có tác động lan tỏa tới khu vực và toàn bộ nền kinh tế, thu hút công nghệ cao với những ngành nghề, lĩnh vực cạnh tranh phù hợp xu thế phát triển của thế giới.

Bên cạnh đó, việc xây dựng các đặc khu cũng nhằm chủ động tạo ra một “sân chơi mới” với các thể chế, chính sách đặc biệt thuận lợi, vượt trội, cạnh tranh quốc tế cho phát triển khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển (R&D); các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ mới 4.0; giáo dục, y tế chất lượng cao; dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, công nghiệp văn hóa; phát triển dịch vụ hậu cần cảng biển và sân bay; thương mại và tài chính quốc tế gắn với cảng biển.

Tuy nhiên, người đứng đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng thẳng thắn cho rằng, xây dựng dự án luật về đặc khu kinh tế là vấn đề mới, khó khăn, chưa có tiền lệ tại Việt Nam. Vì thế, việc xây dựng bộ luật này phải thận trọng, cập nhật với thông lệ quốc tế, nhưng không nên quá cầu toàn. Trong quá trình triển khai thực tế, nếu cần sẽ bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. 

Trước mắt, theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, để xây dựng và thu hút đầu tư vào các đặc khu, việc xây dựng hoàn thiện hành lang pháp lý đóng vai trò rất quan trọng.

“Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt dự kiến được trình Quốc hội xem xét, thông qua vào Kỳ họp thứ 5 này. Cho đến nay, Dự án Luật đã bám sát ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tiếp thu ý kiến góp ý của các vị đại biểu Quốc hội, các cơ quan liên quan, đặc biệt là ý kiến tư vấn, góp ý của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, trong đó có các tổ chức, cơ quan tư vấn có uy tín trên thế giới”, Bộ trưởng cho biết. 

Cần có sự ràng buộc với nhà đầu tư được hưởng ưu đãi

Ông Hoàng Văn Cường, Phó hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, đại biểu Quốc Hội

Ba đặc khu sẽ cùng phát triển với một mô hình chung về chiến lược kinh tế, cũng như những cơ chế chính sách. Tuy nhiên, vẫn nên có cơ chế đặc thù được áp dụng theo ngành nghề, mũi nhọn ưu tiên đầu tư tại mỗi đặc khu. Chúng ta không nên ngại sự cạnh tranh tại 3 đặc khu kinh tế này.

Thực tế, trên thế giới, mỗi quốc gia đều có các ưu đãi chính sách đặc biệt với đặc khu kinh tế. Mỗi đặc khu có ưu đãi nổi trội khác nhau, ví dụ chính sách thuế và đây là yếu tố tạo sức hấp dẫn với nhà đầu tư.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến còn băn khoăn về mối liên kết giữa ưu đãi và ràng buộc các nhà đầu tư là gì? Chúng ta cần có sự ràng buộc để không xảy ra trường hợp, các nhà đầu tư chỉ vào hưởng ưu đãi, tìm chỗ đứng, lợi dụng chính sách… mà không thực sự có sức mạnh tạo ra sự phát triển. 

Tạo ra sân chơi bình đẳng với nhà đầu tư quốc tế

Ông Lê Minh Dũng, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Bim Group

Với vai trò là nhà đầu tư lâu năm tại các địa điểm hình thành đặc khu, chúng tôi mong có các thể chế thật minh bạch, đặc biệt là với nhà đầu tư chiến lược. Vì hiện tại các luật rất chồng chéo, việc xin giấy phép còn đi nhiều cửa. Bên cạnh đó, các thể chế phải minh bạch, thay vì cơ chế xin cho và cần có cơ chế ưu đãi cho các ngành nghề còn thiếu.

Để một khu đặc khu thành công thì ngoài nhà đầu tư trong nước phải thu hút nhà đầu tư quốc tế. Hiện tại, chưa thấy nhiều nhà đầu tư quốc tế tại các đặc khu, nhất là trong lĩnh vực bất động sản. Dường như, họ còn e ngại về các thủ tục hành chính, minh bạch, nên chúng ta phải tạo ra sân chơi bình đẳng. 

Kỳ vọng đẩy nhanh thời gian xử lý thủ tục đầu tư

Ông Trần Đạo Đức, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn CEO

Chúng tôi mong muốn là một trong những nhà đầu tư chiến lược của Phú Quốc, Vân Đồn. Chính vì vậy, Tập đoàn CEO, cũng như nhiều nhà đầu tư khác kỳ vọng sự minh bạch trong các cơ chế chính sách của đặc khu.

Bên cạnh đó, cần có quy trình, thủ tục đơn giản, rút gọn. Đối với dự án đầu tư của CEO tại Phú Quốc, hiện tại để làm thủ tục, chúng tôi phải liên hệ các sở ban ngành trên địa bàn. Riêng việc di chuyển từ đất liền ra ngoài đảo đã mất một ngày. Nếu như hình thành đặc khu, mong muốn của chúng tôi là giao quyền cho chủ tịch đặc khu để các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc hoàn thiện thủ tục, hồ sơ pháp lý. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư phát triển, đẩy nhanh thời gian xử lý đầu tư. 

Tin bài liên quan

VNIndex

921.05

-25.42 (-2.76%)

 
VNIndex 921.05 -25.42 -2.76%
HNX 134.04 -3.09 -2.31%
UPCOM 63.4 -0.18 -0.28%