Có Bộ "nợ" kiến nghị cử tri năm này qua năm khác

Theo Ban Dân nguyện của Quốc hội, một số kiến nghị cử tri phản ánh những vấn đề khó khăn, vướng mắc cần phải điều chỉnh kịp thời, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Trưởng ban Dân nguyện Dương Thanh Bình báo cáo tại phiên họp.

Trưởng ban Dân nguyện Dương Thanh Bình báo cáo tại phiên họp.

Từ kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV (tháng 11/2019) đến nay, cử tri nhiều địa phương đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67 về một số chính sách phát triển thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) trả lời trong quý IV năm 2020 sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi nhưng sau đó lại trả lời sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định nêu trên vào quý IV/2021.

Thông tin trên được Trưởng ban Dân nguyện Dương Thanh Bình báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sáng 11/10, trong kết quả giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV.

Chưa rõ trách nhiệm người đứng đầu

Ông Bình cho biết, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương đã trả lời 781/781 kiến nghị. Trong đó 662 kiến nghị được giải trình, cung cấp thông tin, 35 kiến nghị đã giải quyết xong, 84 kiến nghị đang tiếp tục được xem xét, giải quyết.

Về hạn chế, ông Bình nêu, việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri của một số bộ, ngành chưa thể hiện rõ trách nhiệm của người đứng đầu, chưa đủ thông tin, chưa đúng nội dung cử tri kiến nghị.

Tại Bộ Nội vụ, Bộ Giao thông Vận tải, hầu hết các kiến nghị của cử tri được giao cho cấp phó ký văn bản giải quyết, trả lời, chưa thể hiện rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu.

Vi dụ cụ thể về trả lời chưa đúng nội dung được nêu tại báo cáo là cử tri tỉnh Phú Thọ đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm có hướng dẫn cụ thể về định mức, cơ chế, chính sách đối với giáo viên theo Nghị quyết số 102 của Chính phủ về giải pháp đối với biên chế sự nghiệp giáo dục và y tế.

Trả lời cử tri, Bộ đề nghị địa phương căn cứ các quy định tại Thông tư số 16 hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập và Thông tư liên tịch số 06 quy định về danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập để triển khai thực hiện.

"Qua giám sát cho thấy, tại Nghị quyết số 102, Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và đào tạo rà soát để sửa đổi các thông tư nêu trên cho phù hợp với việc triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và điều kiện thực tế của từng vùng, miền, thời gian hoàn thành trong Quý IV năm 2020. Tuy nhiên, đến nay, Bộ vẫn chưa ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung các thông tư này. Trong văn bản trả lời cử tri, Bộ cũng chưa đề cập đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao trong Nghị quyết số 102 để giải quyết vấn đề cử tri quan tâm, chưa thể hiện rõ trách nhiệm của Bộ trong giải quyết kiến nghị của cử tri. Kiến nghị Bộ sửa đổi Thông tư liên tịch số 06 và Thông tư số 16 như chỉ đạo của Chính phủ", ông Bình nêu rõ.

Báo cáo cũng nêu một hạn chế nữa là việc phối hợp giữa một số Bộ còn chưa chặt chẽ trong công tác tham mưu xây dựng, trình Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nên còn có quy định khác nhau, chưa đảm bảo công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng

Cụ thể, cử tri tỉnh Bến Tre cho rằng quy định của pháp luật về thời điểm tính tuổi nghỉ hưu đối với người lao động không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh theo quy định tại Nghị định số 135 và Nghị định số 159 còn chưa thống nhất.

Qua giám sát cho thấy, cùng là việc xác định thời điểm để tính tuổi nghỉ hưu đối với người lao động không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh, nhưng Nghị định số 135 (do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xây dựng và trình Chính phủ ban hành) lấy ngày 1/1 của năm sinh để làm căn cứ xác định thời điểm nghỉ hưu và thời điểm hưởng chế độ hưu trí; còn tại Nghị định số 159 (do Bộ Nội vụ xây dựng và trình Chính phủ ban hành) lại quy định đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước lấy ngày 1/1 của năm liền kề, có sự chênh lệch 1 năm giữa người lao động nói chung và người quản lý doanh nghiệp nhà nước nói riêng.

Ban Dân nguyện kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, xây dựng trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xác định thời điểm tính tuổi nghỉ hưu đối với người không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh, để khắc phục sự phân biệt về chính sách, chế độ hưu trí, bảo đảm công bằng đối với người lao động.

Tiếp thu nhưng chưa giải quyết dứt điểm

Nêu tiếp hạn chế, Trưởng ban Dân nguyện phản ánh, một số kiến nghị của cử tri phản ánh những vấn đề khó khăn, vướng mắc cần phải điều chỉnh kịp thời, mặc dù đã được các Bộ, ngành trả lời tiếp thu nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Từ kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đến nay, cử tri nhiều địa phương đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67 về một số chính sách phát triển thủy sản. Trả lời cử tri, Bộ NN&PTNT đã nêu rõ trong quý IV năm 2020 sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67. Tuy nhiên, đến nay, Nghị định nêu trên vẫn chưa được ban hành và Bộ NN&PTNT lại trả lời sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định nêu trên vào quý IV năm 2021 .

Qua giám sát cho thấy, Nghị định số 67 được ban hành đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực trong phát triển thủy sản, từng bước ổn định và nâng cao đời sống cho ngư dân. Tuy nhiên, các quy định tại Nghị định chưa có tính ổn định lâu dài, nên đã phải sửa đổi, bổ sung 3 lần trong vòng 4 năm.

Đến nay việc triển khai thực hiện vẫn còn một số hạn chế như: cơ sở hạ tầng nghề cá xuống cấp, quá tải, thiếu cơ sở hạ tầng nghề cá hiện đại; việc tiếp cận nguồn vốn vay còn khó khăn; tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu ở mức cao; một số chính sách ưu đãi để khuyến khích, thu hút ngư dân, doanh nghiệp đầu tư, đóng mới tàu khai thác dịch vụ hậu cần nghề cá hiện đại, khuyến khích đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao… cần được tiếp tục quy định cụ thể.

Bộ NN&PTNT cần xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67, đảm bảo tính hiệu quả khi triển khai thực hiện, tránh việc phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần trong thời gian ngắn - báo cáo nêu.

Tin bài liên quan

VNIndex

1,395.53

2.83 (0.2%)

 
VNIndex 1,395.53 2.83 0.2%
HNX 384.88 0.04 0.01%
UPCOM 99.44 0.15 0.16%
19/10/2021
20/10/2021
22/10/2021
25/10/2021
08/11/2021