Chuyên gia, ngân hàng bày cách cho doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn nhanh

(ĐTCK) Việt Nam có khoảng 97% doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), và các doanh nghiệp này mãi không lớn. Vì thế, theo giới phân tích, cần các trợ lực để doanh nghiệp nhỏ ngành sản xuất tăng tốc trong thời đại số.

Nhiều khó khăn bủa vây khiến SME khó lớn

Sáng 3/10, Thời báo Kinh tế Sài Gòn phối hợp cùng Công ty Kizuna tổ chức hội thảo “Các trợ lực để doanh nghiệp SMEs ngành sản xuất tăng tốc trong thời đại số”.

Phát biểu tại hội thảo, ông Trần Ngọc Liêm, Phó giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại TP.HCM cho biết, cuộc điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), do VCCI và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thực hiện lý giải tại sao SMEs thời gian qua chưa có sự phát triển mạnh mẽ.

Theo ông Liêm, còn nhiều vướng mắc, khó khăn trong tiếp cận nguồn lực cho quá trình hoạt động như nắm bắt thông tin chính sách, pháp luật, tiếp cận vốn, tiếp cận đất đai.

Gánh nặng về chi phí không chính thức, chất lượng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thấp và chưa đúng đối tượng, gánh nặng về thủ tục hành chính cũng như thanh, kiểm tra của các cơ quan nhà nước địa phương đối với các SMEs lại càng lớn.

Đáng chú ý, các SMEs khó có thể tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng hoặc nếu có tiếp cận được thì lãi suất cao hơn các doanh nghiệp lớn.

Để có thể thúc đẩy sự phát triển của SMEs trong thời gian tới, ông Liêm cho rằng, những chính sách và pháp luật có liên quan cần thực hiện nhằm tháo gỡ những khó khăn mà các SMEs đang gặp phải hiện nay.

Đồng thời, các chính sách phải thật thiết thực, gần gũi với doanh nghiệp nhỏ, như hỗ trợ tiếp cận vốn, đất đai, tìm kiếm khách hàng, nhà cung cấp.

Thêm vào đó, việc cải thiện môi trường kinh doanh là cần thiết, giúp doanh nghiệp xóa bỏ các loại chi phí không chính thức mà họ đang phải gánh chịu như hiện nay, giảm bớt các cuộc thanh kiểm tra không cần thiết với SMEs.

Tuy nhiên, để có thể theo kịp, các doanh nghiệp này phải hiểu rằng, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, kinh doanh là cấp thiết.  

Đồng quan điểm, bà Trần Liên Phương, Giám đốc Nghiên cứu Công ty Nghiên cứu thị trường InsightAsia cho biết, SME trong lĩnh vực sản xuất hiện mong muốn có môi trường sản xuất hiệu quả, ổn định, có thể phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường và về lâu dài có thể sở hữu nhà xưởng.

Tuy vậy, điều này vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp thực hiện được, do vậy cho đến nay, nhiều doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục giữ mức “siêu nhỏ” hoặc nhỏ.

Những điểm yếu của SMEs, cùng với những thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế thế giới khiến họ sẽ còn gặp khó trong tương lai.

Việc cần làm của khối doanh nghiệp này là phải chủ động trước cơ hội lẫn thách thức. Không những vậy, SMEs cần phải có chiến lược phù hợp, hiệu quả để thích nghi và thay đổi.

Cách nào để lớn?

Theo báo cáo mới nhất của InsightAsia, trong số các khó khăn lớn nhất của SMEs ở Việt Nam, thì khó khăn về vốn là lớn nhất.

Theo đó, có 62% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng, họ gặp khó về nguồn vốn (chủ yếu là để đầu tư nhà xưởng, máy móc…), trong khi khó khăn về nguồn khách hàng đứng thứ hai với 60%, khó khăn về nhà xưởng cũng có 55% và 45% được hỏi cho rằng họ gặp khó về pháp lý.

Lý giải vì sao doanh nghiệp SMEs khó tiếp cận vốn ngân hàng, ông Trần Khải Hoàn, Phó tổng giám đốc Nam A Bank cho rằng, có nhiều doanh nghiệp khi vay vốn không chứng minh được phương án kinh doanh và mục đích sử dụng vốn. Doanh nghiệp cũng không bàn phương án kinh doanh từ nguồn vốn ngân hàng. Do đó, các nhà băng ngại rót mạnh vốn cho doanh nghiệp nhỏ. 
Ngoài ra, theo ông Hoàn, các SMEs cũng cần có nguồn vốn tự có, tối thiểu 20% mới có thể đảm bảo được rủi ro và chi phí. Còn nếu muốn an toàn và hiệu quả, nhất là trong bối cảnh chi phí tăng như hiện nay, thì các doanh nghiệp nhỏ phải có tối thiểu 40% vốn tự có.
Một khó khăn nữa trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, theo nhiều doanh nghiệp nhỏ, là họ không có tài sản thế chấp.
Tuy nhiên, theo ông Hoàn, trong quá trình cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp này, tài sản không hẳn là các giá trị bất động sản, mà còn thế chấp bằng hợp đồng kinh doanh, có phương án kinh doanh hiệu quả với một đối tác có uy tín, thì khả năng tiếp cận được vốn ngân hàng rất lớn.
Trong khi đó, ông Đỗ Khắc Cương, Giám đốc Khối doanh nghiệp SMC Microsoft Việt Nam cho rằng, để có thể tiết kiệm được chi phí, kể cả chi phí vốn vay, các SMEs phải vận dụng công nghệ số. 
Chẳng hạn, việc gọi xe để vận chuyển hàng hóa, trước đây các doanh nghiệp thường phải tính toán đến việc mua tài sản là xe để có thể vận chuyển hàng hóa.
Điều này tốn kém không ít chi phí mua xe, khẩu hao..., nhưng hiện nay không ít SMEs đã tính đến việc sử dụng xe công nghệ để vận chuyển hàng hóa mà không cần phải vay vốn lãi suất, chi phí tăng mà nhiều khi còn gây lãnh phí...
Hay điển hình về việc ứng dụng công nghệ cao đã đem lại hiệu quả lớn cho Uber. Mặc dù họ không sở hữu một xe taxi nào, nhưng đã có được một lực lượng mà đội xe khổng lồ trên toàn thế giới để có thể điều hành về hệ thống vận tải phục vụ cho rất nhiều người.
Những ứng dụng về công nghệ thông tin là những yếu tố làm thay đổi trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, các doanh nghiệp mới có thể tăng tính cạnh tranh, giảm chi phí hàng hóa, sản phẩm. Vì thế, việc không áp dụng công nghệ thông tin vào sản xuất, kinh doanh sẽ làm giảm sức cạnh tranh của SMEs.
Các thành tố về công nghệ ngày càng cạnh tranh về chi phí cũng đã đem lại nhiều tiện ích cho người dùng. Giá cả, sản phẩm, dịch vụ từ đó cũng được cạnh tranh.
Một con số khả quan được ông Cương công bố tại hội thảo là 86% SMEs tại Việt Nam (theo mẫu khảo sát của Microsoft toàn cầu) tiếp cận tốt với công nghệ thông tin, cao hơn tỷ lệ này ở rất nhiều nước, vùng lãnh thổ tại châu Á như Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc), Trung Quốc, Nhật Bản.
Tin bài liên quan

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu