PSI: Nguồn cấp khí của POW sẽ đảm bảo khi được bổ sung mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt vào cuối năm 2020

Nguồn : PSI - CTCK Dầu khí

Ngành : Điện

Download : psi_baocaocapnhatpow052020_LLWN.pdf

Lợi nhuận sau thuế quý I/2020 của Tổng công ty Điện lực dầu khí Việt Nam (POW) đạt 505 tỷ đồng, giảm 411 tỷ đồng so với cùng kỳ 2019, do tác động của một số yếu tố như thủy văn, nguồn cấp khí và tỷ giá.

Cuối quý I/2020, PV POW đã thu hồi được khoản nợ 414 tỷ đồng EVN giữ lại là 20% chi phí cố định vốn đầu tư Nhà máy điện Vũng Áng 1; tuy nhiên khoản nợ hơn 1.300 tỷ đồng của EVN với Nhà máy điện Cà Mau 1&2 do chưa thống nhất tỷ giá áp dụng chung cho giá bán điện hiện vẫn chưa đạt được thống nhất, PV POW đã trình Ủy Ban quản lý vốn và Bộ Công Thương giải quyết khoản nợ nay của EVN.

Bên cạnh đó, công nợ của EVN với Nhà máy điện Cà Mau vẫn phát sinh thêm hàng tháng làm tăng khoản phải thu ngắn đối với EVN, tính đến cuối quý I/2020 đạt 9.599 tỷ đồng.

Quý I/2020, Nhà máy điện Vũng Áng 1 vận hành theo thị trường điện với mức độ khả dụng cao, đạt sản lượng 1.849,64 triệu kWh (hoàn thành 121% kế hoạch được giao).

Trung bình năm, Nhà máy điện Vũng Áng tiêu thụ 3,4 triệu tấn than, tình trạng thiếu than xảy ra cuối năm ngoái đã hoàn thoàn được khắc phục do trong đầu năm 2020 PVPOW đã ký hợp đồng dài hạn với TKV với sản lượng cam kết cung cấp 3 triệu tấn than +/-5% cho Nhà máy điện Vũng Áng và POW chủ động nhập khẩu 400-500 nghìn tấn đã đảm bảo được sản lượng điện thương phẩm của nhà máy.

Giá than nhập khẩu hiện tại có lợi thế hơn, trong khoảng 60-70$/tấn và được chuyển ngang sang giá điện, giúp POW tránh được rủi ro biến động giá nguyên liệu đầu vào.

Dự án Nhà máy điện NT 3&4 đã hoàn tất xong FS: dự án có tổng mức đầu tư 1.4 tỷ USD, đến thời điểm hiện tại PV POW đã hoàn tất FS và đàm phán với EVN về hợp đồng mua bán điện cho NT3&4, đáp ứng yêu cầu về hồ sơ vay vốn của các tổ chức tín dụng. Dự kiến nguồn nhiên liệu từ đầu tư LNG nhập khẩu và mức tiêu thụ 1,2 triệu tấn/năm.

Chuẩn bị tham gia thị trường điện cạnh tranh cho Nhà máy điện Cà Mau 1&2 phải chuyển đổi hợp đồng, POW đã đạt thỏa thuận với EVN không tính toán lại giá mà chỉ chuyển ngang hợp đồng hiện hữu, tuy nhiên chưa thống nhất về công thức tinh giá.

Nguồn cấp khí được bổ sung từ mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt: Đối với NT1, lô 11.2 thuộc bể Nam Côn Sơn cung cấp khí cho NT1 năm 2020 bắt đầu suy giảm từ 18 triệu m3/ngày trong năm 2019 xuống 16,5 triệu m3/ngày trong năm 2020.

PV POW dự kiến mua thêm khí từ mỏ Sao Vàng Đại Nguyệt, tuy nhiên do tình hình dịch bệnh ảnh hưởng đến tiến độ lắp đặt, dự kiến bắt đầu cấp khí cuối năm 2020.

Ngoài ra, POW dự kiến mua thêm khí LNG cho NT1 trong những năm tới bổ sung lượng khí suy giảm từ các mỏ. Đối với Nhà máy điện Cà Mau, lượng khí được đảm bảo ổn định do mua thêm khí từ Petronas.

Đối với NT2, PV GAS vẫn cam kết cung cấp đầy đủ khí cho NT2, tính đến hiện tại NT2 hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch quý I, trong thời gian tới, NT2 có kế hoạch vận hành LNG chủ động bù đắp khí thiếu hụt. Bên cạnh đó, NT2 đã ký tắt hợp đồng với EPTC, tuy nhiên giá PPA vẫn đang trong quá trình đàm phán.

Kế hoạch dự kiến triển khai trong thời gian tới: Thoái vốn Nhà máy thủy điện Đăk đrink (hiện POW đang sở hữu hơn 90%): dự án có khoản vay vốn bảo lãnh của chính phủ ~ 2000 tỷ đồng, theo tiến độ trả nợ hiện tại, dự kiến POW sẽ hoàn thành nghĩa vụ trả nợ năm 2025 và có kế hoạch xem xét thoái vốn ngay khi trả hết nợ để thực hiện đầu tư các dự án mới.

Mở rộng thêm mảng năng lượng tái tạo: Tập trung đầu tư điện mặt trời áp mái, tận dụng thuận lợi từ các nhà máy trong tập đoàn, dự kiến năm đầu tiên 2020 lắp đặt tối tiểu 3,5% công suất điện mặt trời, ước khoảng 50 MW.

Dự án năng lượng tái tạo có thời gian lắp đặt nhanh và được chính phủ mua với giá FIT là 1.943 đồng/kWh (trong 20 năm), tuy nhiên chỉ áp dụng cho dự án có ngày vận hành thương mại dự án hoặc một phần dự án trong giai đoạn từ 1/7/2019 đến hết ngày 31/12/2020.


VNIndex

868.47

7.31 (0.84%)

 
VNIndex 868.47 7.31 0.84%
HNX 114.22 1.15 1.0%
UPCOM 56.48 0.22 0.39%