(ĐTCK)Trong những năm gần đây, nợ xấu đã trở thành một vấn đề lớn của ngành ngân hàng Việt Nam. 

Vì nhiều lý do cả từ phía TCTD (cho vay và quản lý khoản vay lỏng lẻo, chạy theo tăng trưởng tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng không hiệu quả trong thời gian kinh tế tăng trưởng nóng…) lẫn phía người đi vay (kinh tế suy thoái khiến nhiều DN gặp khó khăn trong sản xuất - kinh doanh, các dự án bị chậm, không triển khai được hay triển khai không đúng tiến độ, không thu hồi được tiền từ các phương án kinh doanh…), nợ xấu tăng nhanh tại hầu hết các TCTD.

Trước tình hình đó, từ năm 2012, Đề án tái cấu trúc toàn diện các TCTD đã đặt ra một loạt mục tiêu, trong đó xử lý nợ xấu của các TCTD là một mục tiêu quan trọng, hướng tới việc đưa tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành về dưới 3% vào cuối tháng 9/2015.

Quá trình xử lý nợ xấu tại Việt Nam có thể tóm gọn trong các bước: trước hết là xác định, tập hợp các khoản nợ xấu một cách chi tiết, phân tích khả năng thu hồi nợ của các khoản nợ xấu theo loại tài sản bảo đảm, phương án kinh doanh…; sau đó thực hiện các giải pháp thu hồi nợ, trong đó một giải pháp mang tính đặc thù trong giai đoạn hiện nay là bán nợ cho VAMC (để tập trung nợ xấu về một đầu mối, đồng thời giảm tỷ lệ nợ xấu qua việc tách một phần nợ xấu khỏi bảng tổng kết tài sản); cuối cùng là việc tiến hành xử lý thu hồi nợ xấu theo nhiều biện pháp khác nhau, thực hiện bởi VAMC và chính các TCTD bán nợ.

Với định hướng trên, đến nay, sau hơn ba năm thực hiện quá trình tái cơ cấu các TCTD, mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành về dưới 3% bằng biện pháp bán nợ cho VAMC về cơ bản đã đạt được. Tính từ khi thành lập (2013) đến hết tháng 8/2015, VAMC đã mua được 208.000 tỷ đồng nợ xấu, phát hành được 177.000 tỷ đồng trái phiếu đặc biệt. Hệ thống các TCTD đã xử lý được 70% tổng số nợ xấu được xác định tại thời điểm tháng 9/2012, đưa tỷ lệ nợ xấu theo số liệu giám sát của NHNN từ mức 17,21% tại thời điểm tháng 9/2012 về mức 3,72% vào tháng 6/2015.

Về cơ bản, các TCTD đều đã giảm được tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3%, trừ một số TCTD quá yếu kém và đã được NHNN mua lại với giá 0 đồng. Mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu toàn ngành về 3% vào 30/9/2015 là hoàn toàn khả thi. Sau khi bán nợ cho VAMC, bước tiếp theo các TCTD thực hiện những biện pháp xử lý nợ xấu. Tuy có rất nhiều nỗ lực, nhưng hiện công tác xử lý nợ xấu vẫn còn tồn tại một số khó khăn đáng kể.

Trước hết là về vấn đề pháp lý, hay cụ thể hơn là tính đồng bộ của các quy định pháp luật liên quan. Hiện nay, có khá nhiều luật, nghị định, thông tư liên quan đến các vấn đề thế chấp, xử lý tài sản bảo đảm, thi hành án dân sự, nhưng vẫn tồn tại những bất cập về quy phạm pháp luật trong lĩnh vực xử lý nợ xấu.

Chẳng hạn, sau khi bán nợ cho VAMC, TCTD về cơ bản vẫn phải quản lý, xử lý nợ và chịu trách nhiệm như chưa bán nợ; nhưng khi TCTD muốn xử lý nợ bằng khởi kiện ra toà lại gặp vướng mắc, vì toà án không thụ lý vụ kiện hoặc không chấp nhận tư cách tham gia tố tụng của các TCTD trong trường hợp này: TCTD đã bán/chuyển tài sản thuộc sở hữu của mình cho pháp nhân khác thì không còn quyền khởi kiện đòi nợ.

Nếu VAMC uỷ quyền cho TCTD khởi kiện và tham gia tố tụng, bên khởi kiện phải là VAMC, chứ không sử dụng tư cách của TCTD. Đó là chưa tính đến việc hệ thống toà án còn căn cứ vào quy định không rõ ràng của Bộ luật Dân sự 2005, pháp nhân này không được phép uỷ quyền cho pháp nhân khác. Rõ ràng, các vấn đề pháp lý là một trở ngại không nhỏ trong quá trình xử lý nợ xấu.

Tiếp theo là những tồn tại trong cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Như chúng ta đều biết, nợ xấu đã không còn là vấn đề gói gọn trong phạm vi một ngành (tài chính ngân hàng), mà đã trở thành một vấn đề chung của toàn xã hội trong những năm gần đây. Trong mỗi trường hợp xử lý nợ xấu và tài sản thế chấp liên quan đều cần có sự tham gia của nhiều cơ quan ban ngành, địa phương bên cạnh ngân hàng và chủ sở hữu tài sản, và sự thiếu đồng bộ có thể nhận ra chính ở khâu này.

Nghị định 163/2006/NĐ-CP về quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu rất rõ khi thu giữ tài sản, ngân hàng có thể chủ động xử lý tài sản đảm bảo hoặc khởi kiện, tuy nhiên đến thời điểm này, rất nhiều cơ quan chức năng liên quan (chính quyền địa phương, UBND, công an…) chưa có sự phối hợp tốt với ngân hàng, tạo điều kiện cho khách hàng vay/chủ sở hữu tài sản thế chấp chây ì, không chịu thi hành nghĩa vụ của mình.

Trong nhiều trường hợp, khách hàng vay thậm chí còn lợi dụng những thủ tục hành chính để kéo dài thời gian xử lý nợ. Bên cạnh đó, sự thiếu đồng bộ trong phối hợp giữa các cơ quan liên quan cũng thể hiện trong việc thi hành án chậm, nhất là khi các khoản vay liên quan đến nhiều TCTD; tài sản đang bị tranh chấp, đang phát mãi; khách hàng tẩu tán tài sản thế chấp, nên thi hành án chưa kê biên được...

Sự trao đổi thông tin qua lại giữa ngân hàng và đơn vị thi hành án cũng thường chậm chạp, đôi khi ngân hàng đã có văn bản yêu cầu giải quyết hồ sơ nhưng đơn vị thi hành án vẫn chưa tiến hành. Khi thời gian thi hành án kéo dài, tài sản bị giảm giá trị, lãi phát sinh tăng, dẫn đến tài sản phát mãi có khả năng không thu hồi đủ nợ. Đây cũng là một nút thắt đáng kể khiến ngân hàng bị động khi xử lý nợ xấu.

Nhìn lại những kết quả đã đạt được cũng như những khó khăn, trở ngại (từ mặt pháp lý, từ sự phối hợp của các chủ thể liên quan, từ cơ chế chính sách…) đối với quá trình xử lý nợ xấu tại Việt Nam thời gian qua, có thể đưa ra một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ trong giai đoạn tiếp theo.

Thứ nhất, cần xây dựng một thị trường vận hành hiệu quả để các khoản nợ có thể đem ra mua bán, đây là điều quan trọng để giải quyết vấn đề nợ xấu. Sau khi bán nợ cho VAMC, các khoản nợ này hiện mới được tập trung lại, các TCTD vẫn có trách nhiệm tự tìm cách thu hồi nợ, song quan trọng hơn là phải làm sao để VAMC có thể tiếp tục bán nợ ra thị trường, do khối lượng nợ VAMC mua vào đến nay đã là khá lớn. Ngoài ra, thị trường mua bán nợ này phải được “liên thông” với khâu thi hành án, như thế các giao dịch mua bán nợ mới thực sự phát triển được

. Nếu khâu xử lý tài sản thế chấp, thi hành án dân sự liên quan đến các khoản nợ xấu không được cải thiện, các khoản nợ chỉ chuyển từ tay người này sang người khác và vấn đề thu hồi nợ không được giải quyết triệt để, từ đó thị trường mua bán nợ sẽ vận hành kém hiệu quả. Bản thân cơ chế trao đổi thông tin giữa NHTM và cơ quan thi hành án cũng cần được điều chỉnh và cải tiến mạnh mẽ.

Thứ hai, là cơ chế hỗ trợ từ phía Chính phủ và các cơ quan ban ngành trong quá trình xử lý nợ xấu. Nợ xấu là vấn đề của cả nền kinh tế chứ không chỉ của riêng ngành ngân hàng, do đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần phối hợp, căn cứ vào tình hình thực tế mà ban hành những cơ chế cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý nợ xấu.

Bản thân việc lập ra VAMC cùng những cơ chế cho phép TCTD bán nợ cho VAMC đã là một giải pháp rất mới và linh hoạt, hình thành trên cơ sở đặc thù của thị trường Việt Nam, tuy nhiên, vẫn cần có những cơ chế mới hướng tới việc tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng để giải quyết nhanh nhất vấn đề này của nền kinh tế. Quan trọng nhất là cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư mua nợ, bao gồm cả trong và ngoài nước.

Xử lý nợ xấu cần nhiều công cụ, nhưng trên hết là cần có luồng tiền mới từ các nhà đầu tư, do đó, rất cần có các cơ chế ưu đãi về nhiều mặt, từ thuế, chuyển quyền sử dụng tài sản nhanh chóng, đến việc xem xét hợp thức hóa những tài sản chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý trong thời gian nhanh nhất…

Ngoài ra, cần xét đến tính toàn diện trong các giải pháp xử lý nợ xấu. Hiện nay, có thể nói, việc tổ chức xử lý nợ xấu trên quy mô toàn hệ thống vẫn còn rời rạc, ngay cả khi tính đến cả giải pháp bán nợ qua VAMC. Nhìn chung, các TCTD vẫn tự xử lý nợ xấu của riêng mình, chưa có sự liên kết chung trên bình diện một “thị trường” mua bán nợ xấu như kỳ vọng.

Tóm lại, xử lý nợ xấu đòi hỏi quyết tâm và sự phối hợp của toàn xã hội, cụ thể là hàng loạt các chủ thể liên quan, từ các cơ quan quản lý ban hành quy phạm pháp luật, đến NHNN và các TCTD, bên đi vay và bên sở hữu tài sản thế chấp, cơ quan thi hành án, chính quyền địa phương, công an…

Sau hơn 3 năm thực hiện quá trình tái cơ cấu toàn diện các TCTD, tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành ngân hàng bước đầu đã giảm xuống đáng kể và kỳ vọng sẽ đạt mục tiêu dưới 3% mà NHNN đề ra. Tuy nhiên, nhìn về dài hạn, để giải quyết hiệu quả vấn đề nợ xấu của nền kinh tế, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như cơ chế phối hợp hiệu quả của các chủ thể liên quan; đồng thời Nhà nước cần có một chiến lược tổng thể với những cơ chế, biện pháp hỗ trợ kịp thời, nhằm xây dựng được một thị trường mua bán nợ có tính thanh khoản cao, với sự tham gia của các bên mua bán nợ cả trong và ngoài nước.

Gần đây, NHNN đã ban hành Thông tư 14/2015/TT-NHNN, theo đó VAMC quyết định và chịu trách nhiệm về việc mua khoản nợ xấu theo giá trị thị trường, phát hành trái phiếu, trái phiếu đặc biệt để thanh toán cho các TCTD bán nợ khi mua nợ xấu của các TCTD. Những cơ chế hỗ trợ tương tự, nhằm khuyến khích các nhà đầu tư mua nợ, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài cũng cần được triển khai sớm để thúc đẩy nguồn tiền đầu tư thật vào thị trường mua bán nợ. Tất cả những sự phối hợp đó sẽ tạo nên hiệu quả cộng hưởng của quá trình xử lý nợ xấu tại Việt Nam trong thời gian tới.

Dương Hiếu
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.