(ĐTCK) Năm 2015 là một năm quan trọng đối với các ngân hàng Việt Nam. Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập dự kiến sẽ thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn cho Việt Nam, góp phần thúc đẩy hơn nữa những tiềm năng của đất nước và theo đó sẽ ảnh hưởng cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến các ngân hàng Việt Nam. 

Song song với việc tăng cường hội nhập ASEAN, Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành ngân hàng, từ đó dẫn đến những sự hợp nhất cũng như việc tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp (DN) Nhà nước.

Tất cả những yếu tố này mang lại cả cơ hội lẫn thách thức. Các ngân hàng phải làm sao đạt được những chuẩn mực cao về quản trị để đứng vững trước các cải cách, duy trì năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, những DN có chất lượng quản trị tốt sẽ nâng cao được lòng tin của nhà đầu tư, cải thiện được kết quả về dài hạn và tính bền vững. Chẳng hạn, nghiên cứu về khu vực của Đại học Hồng Kông năm 2003 cho thấy cải thiện chất lượng quản trị DN và tăng cường các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư của nhà nước tại châu Á sẽ dẫn tới giảm chi phí vốn.

Quản trị tốt là yêu cầu đặc biệt quan trọng để bảo đảm sự lành mạnh, ổn định của ngành ngân hàng, từ đó sẽ có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Ngân hàng là nơi nắm giữ đáng kể sự tín nhiệm của người dân vì quản lý một phần lớn của cải của đất nước dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, cũng như cung cấp một lượng vốn lớn cho các DN Việt Nam. Đồng thời, ngân hàng cũng phải đối mặt với những thử thách riêng trong vấn đề quản trị vì bản chất của ngành này luôn chứa đựng những rủi ro, vì thế cần phải có khung cơ chế vững chắc, chuyên sâu để xử lý, kiểm soát rủi ro. Sự sụp đổ của một ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng đó, mà có thể tác động trực tiếp đến toàn hệ thống. 

ảnh 1
Ông Chris Razook 
Một trong những tồn tại lớn về quản trị là sự tồn tại của những cơ chế sở hữu phức tạp, thiếu rõ ràng ở một số ngân hàng, như tình trạng sở hữu chéo của ngân hàng khác, của DN Nhà nước hay các tập đoàn kinh tế lớn. Những cơ chế này gây khó khăn cho việc nhận biết chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng, những thay đổi trong cơ chế kiểm soát, hay thậm chí cả những trường hợp tín dụng tập trung. Phần lớn ngành ngân hàng vẫn đang thuộc kiểm soát nhà nước, kể cả thông qua chính NHNN Việt Nam và gần một nửa tổng tài sản toàn hệ thống đang thuộc sở hữu của các ngân hàng nhà nước.

Các cổ đông sở hữu chi phối ở nhiều ngân hàng chiếm nhiều vị trí trong hội đồng quản trị, từ đó kiểm soát HĐQT, các quyết định chiến lược quan trọng, việc bổ nhiệm ban điều hành. Quy trình bầu chọn thành viên HĐQT chưa làm theo các thông lệ tốt, dẫn đến việc người được chọn thiếu những kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết. Một số trường hợp còn gặp phải những vấn đề như hạn chế quyền của cổ đông thiểu số, từ đó làm giảm các ảnh hưởng chiến lược và quá trình chuyển giao kiến thức từ các cổ đông nước ngoài sang các ngân hàng trong nước.

Phần lớn những vấn đề mang tính hệ thống này bắt nguồn từ việc Việt Nam đẩy nhanh mức tăng trưởng tín dụng từ đầu những năm 2000, với tốc độ vượt xa các nước ASEAN khác nếu tính trên tổng sản phẩm quốc nội (theo IMF). Không phải đến những năm sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, các vấn đề trên bảng cân đối tài khoản mới bắt đầu xuất hiện trong hệ thống ngân hàng, để từ đó những vấn đề về quản trị mới bắt đầu được chú ý đến. Với vai trò quản lý nhà nước, NHNN trong mấy năm qua đã tập trung vào nỗ lực cải cách ngành ngân hàng, trong đó có việc tăng cường quản trị. 

Tuy nhiên, trong khi cần nhiều thời gian để xử lý các vấn đề cơ cấu trong ngành ngân hàng thì có một số mặt về quản trị ngân hàng có thể được cải thiện trong thời gian ngắn. Có hai nghiên cứu của Nhóm Ngân hàng Thế giới, đã lưu ý các tồn tại về vấn đề công khai, minh bạch của các ngân hàng và DN Việt Nam so với các thị trường khác.

Trong nhiều năm gần đây, mức độ công khai, minh bạch của các DN Việt Nam luôn đứng ở vị trí cuối, sau các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan trong Báo cáo Thẻ điểm Quản trị Công ty ASEAN do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) khởi xướng. Đây là một khảo sát về các mô hình quản trị DN của những công ty niêm yết lớn nhất, trong đó có nhiều ngân hàng ở 6 thị trường ASEAN hàng đầu.

Để triển khai các biện pháp trên một cách hiệu quả, các ngân hàng cũng cần phải thay đổi cách thức lập báo cáo tài chính. Hiện các ngân hàng trong nước đang thực hiện quy định áp dụng Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS). VAS có nhiều khác biệt so với Hệ thống chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) và cần được cải thiện về cách thức thể hiện tình hình tài chính của các ngân hàng. Những khiếm khuyết của VAS  phần nào đã bộc lộ qua việc số liệu về tỷ lệ nợ xấu trong ngành ngân hàng được điều chỉnh quá thường xuyên. Việt Nam đang có những nỗ lực và biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giữa VAS và IFRS, nhưng sẽ mất nhiều thời gian.

Quá trình hội nhập ASEAN sâu rộng hơn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Dù chiếm gần 14% dân số ASEAN, nhưng Việt Nam mới chỉ đóng góp khoảng 7% tổng GDP của khối (OECD, 2013), tức là chỉ gần bằng nửa GDP đầu người của Thái Lan. Tuy nhiên, việc hội nhập vào ASEAN sẽ bộc lộ thêm khoảng cách về chất lượng quản trị của các ngân hàng Việt Nam so với các nước khác trong khối, nhất là về lĩnh vực công khai, minh bạch. Nhiều biện pháp đang được thực hiện nhằm thống nhất các quy chế, luật định giữa các nước ASEAN và quá trình này sẽ tiếp tục thúc đẩy các DN ở các thị trường ASEAN nâng cao các chuẩn mực của mình trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng.

Đã có tiến bộ đáng kể trong quy định về công khai thông tin của các công ty đại chúng, niêm yết, nhất là sau khi các quy chế về quản trị công ty và quy định về công bố thông tin được Bộ Tài chính ban hành năm 2012.

Giải thưởng báo cáo thường niên nhằm ghi nhận những công ty niêm yết có cải thiện lớn về công khai, minh bạch do Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Báo Đầu tư Chứng khoán tổ chức thu hút ngày càng nhiều công ty tham gia và nhận được sự quan tâm lớn của thị trường. Thành công của chương trình này là bằng chứng cho sự cải thiện về mức độ minh bạch và chất lượng quản trị công ty ở Việt Nam, tuy nhiên, nhiều DN cần quyết liệt hơn trong việc áp dụng các mô hình quản trị tốt như khuyến nghị nêu trong Báo cáo Thẻ điểm Quản trị Công ty ASEAN.

Quan trọng hơn nữa, ngành ngân hàng sẽ được hưởng lợi nhờ việc có quy chế rõ ràng về quản trị doanh nghiệp, trong đó có các hướng dẫn về công khai, minh bạch. Điều này không chỉ giúp các ngân hàng nâng cao uy tín với nhà đầu tư mà còn giúp các ngân hàng chưa niêm yết chuẩn bị tốt hơn cho việc lên sàn, cũng như tiếp tục hỗ trợ quá trình cổ phần hóa các ngân hàng nhà nước. Những biện pháp này sẽ giúp Việt Nam tiếp tục củng cố khu vực kinh tế tư nhân để sẵn sàng đối mặt với các thử thách trước mắt. Về phần mình, IFC và Nhóm Ngân hàng Thế giới, với sự hỗ trợ của Chính phủ Thụy Sỹ, cam kết sẽ trợ giúp Việt Nam đáp ứng những nhu cầu về tăng cường quản trị DN nêu trên.

Ông Chris Razook là Giám đốc Bộ phận Tư vấn Quản trị Công ty của IFC tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Ông có hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị công ty và đã tham gia hỗ trợ các chương trình đầu tư của IFC thông qua việc hợp tác, hỗ trợ các DN cải thiện khung cơ chế quản trị công ty. Ông cũng tham gia hỗ trợ các ngân hàng trung ương, các cơ quan quản lý thị trường vốn và các cơ quan quản lý khác xây dựng luật, quy chế về quản trị công ty và các quy định về niêm yết chứng khoán, nhằm góp phần xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh hơn. Ông có bằng cao đẳng ngành xây dựng, bằng MBA Tài chính Quốc tế, bằng ThS. Luật doanh nghiệp.

Tăng cường công khai, minh bạch sẽ đem lại nhiều lợi ích trong việc cải thiện uy tín của ngành ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàng Việt Nam bắt buộc phải niêm yết trong thời gian tới. Các ngân hàng của Việt Nam nên cân nhắc áp dụng những giải pháp sau:

* Làm rõ cơ cấu sở hữu, bao gồm xác định chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng, sở hữu trực tiếp và gián tiếp của cổ đông, thành viên HĐQT, giám đốc điều hành; công bố những thay đổi lớn về quyền sở hữu.

* Tăng cường minh bạch, độ chính xác của những thông tin tài chính quan trọng như chất lượng tài sản, nợ xấu, dự phòng mất vốn, tỉ lệ bảo đảm an toàn, minh bạch hóa các giao dịch nợ phân loại với các đơn vị khác.

* Công khai quy định kiểm tra, phê duyệt giao dịch với bên liên quan, bao gồm định nghĩa thế nào là bên liên quan, công khai một số hoạt động trong kỳ, đặc biệt là hoạt động cho bên liên quan vay vốn hay hoán đổi tài sản với bên liên quan.

* Tăng cường công khai những thông tin phi tín dụng như mục tiêu chiến lược, giải trình của ban điều hành, các phân tích, tính toán về tín dụng, rủi ro …

* Tăng cường công khai các thông tin liên quan đến quản trị công ty như cơ cấu, hoạt động của HĐQT, tiểu sử thành viên HĐQT, bao gồm quan hệ với cổ đông, cơ chế thù lao, hoạt động của các ban của HĐQT, số thành viên HĐQT có mặt, các quy định khác về quản trị.

* Tăng cường công khai các quy chế về hành vi, xử lý mâu thuẫn.

* Bảo đảm công bố báo cáo tài chính kịp thời.

* Công khai báo cáo tóm tắt của kiểm toán độc lập, bao gồm mọi dịch vụ phi kiểm toán đã thực hiện, mức phí.

* Tăng cường công khai các thông tin chung trên trang web, bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Tăng cường hoạt động tích cực của bộ phận quan hệ nhà đầu tư.

Theo Chris Razook
Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam 2015
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.