(ĐTCK) Số DN giải thể, phá sản trong năm 2015 lên tới gần 80.000. Lãi suất vẫn bị cho là gánh nặng của các DN. Khó khăn của các DN vẫn hiển hiện, kéo theo không khí căng thẳng cho ngân sách quốc gia.

Năm 2011 - 2012, lãi suất cho vay thường xuyên ở mức trên 20%/năm. Giờ đây, lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh thông thường trong khoảng 6,8 - 9%/năm đối với ngắn hạn (lĩnh vực ưu tiên có lãi suất 6 - 7%/năm), 9,3 - 11%/năm đối với trung và dài hạn (lĩnh vực ưu tiên có lãi suất 9 - 10%/năm).

Các mức lãi suất trên cũng là mức lãi suất phổ biến trong năm 2015. Lãi suất không còn cao, đi cùng với đó là con số lạm phát năm 2015 thấp ở mức kỷ lục trong 14 năm qua (0,63%), đã làm nên thành tích trong điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2015.

Tuy nhiên, khó khăn của các DN vẫn hiển hiện như một góc tối trong nền kinh tế, kéo theo không khí căng thẳng cho ngân sách quốc gia. Tại phiên họp thứ 46 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đầu tháng 3/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng than phiền về tình hình ngân sách “đi dây”, mà “trong những năm tới, có thể đứt dây thì chúng ta khó”.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu nêu lên những con số đáng quan ngại mà ông nghe từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư: số DN giải thể, phá sản trong năm 2015 lên tới con số gần 80.000, trong khi năm 2011 là hơn 50.000.

Theo ông Giàu, lạm phát thấp góp phần giúp kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc. Tuy nhiên, kiểm soát chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa thắt chặt đã tác động trực tiếp đến DN, số lượng DN ngừng hoạt động, giải thể trong những năm qua là đáng báo động và sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế trong trung hạn, dài hạn.

Với lãi suất, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế cho biết, nhiều ý kiến cho rằng, mặc dù nền kinh tế phục hồi, nhưng DN trong nước vẫn rất khó khăn. Tuy Chính phủ chỉ đạo nhất quán trong điều hành phải chủ động, linh hoạt lãi suất theo diễn biến lạm phát, nhưng lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng vẫn là áp lực lớn đối với các DN.

“Lãi suất là gánh nặng của DN, khi lãi suất cho vay so với các nước trong khu vực còn ở mức cao, khiến DN trong nước ốm dở nhiều năm qua sẽ càng chồng chất khó khăn trong cạnh tranh khi đất nước bước vào thời kỳ mới của hội nhập đặc biệt sâu rộng”, TS. Cao Sỹ Kiêm, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhấn mạnh.

Tình hình DN thời gian tới có thể sẽ còn gay go hơn. Theo nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy, áp lực thanh khoản đang tăng lên, lãi suất có chiều hướng tăng kể từ cuối năm 2015 và có thể tăng thêm mức 1 - 2%/năm so với mặt bằng chung năm 2015.

“Với những diễn biến như vậy, không thể đơn giản nói rằng, DN vẫn có thể mở rộng sản xuất - kinh doanh bình thường như năm 2015, hay tốt hơn năm 2015 được”, ông Thúy nói.

Đồng quan điểm, TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế nhận định: “Nếu để mặt bằng lãi suất tăng thêm 1 - 2%/năm, thì DN sẽ bỏ chạy”.

Thực tế, cuộc đua lãi suất huy động đang có dấu hiệu nóng lên. Nếu như cuối năm 2015, chỉ có một số ngân hàng cổ phần nhỏ tăng lãi suất, thì nay đã có sự góp mặt của nhiều ngân hàng lớn.

Phân tích nguyên nhân tăng lãi suất cho vay, Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành nhắc đến một diễn biến rất đáng quan ngại trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, đó là vấn đề về lãi dự thu.

“Các ngân hàng vẫn đang phải nuôi nợ xấu. Báo cáo tài chính của ngân hàng mặc dù ghi nhận khoản lãi trên số tiền cho vay, nhưng thực tế chưa nhận được tiền tươi, thóc thật. Trong khi đó, các ngân hàng phải chịu áp lực trang trải lãi tiền gửi cho người dân. Thế nên, trong con số thu nhập lãi thuần mà các ngân hàng công bố có một phần ảo trong đó”, TS. Thành nói.

Vị chuyên gia này nhấn mạnh, cần cảnh báo được sự nguy hiểm của lãi dự thu đối với hệ thống, bởi lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu đến từ khoản lãi dự thu. Vấn đề này không chỉ tập trung ở những ngân hàng yếu kém đang trong quá trình tái cơ cấu, mà tồn tại ở một số ngân hàng có quy mô vừa trở lên.

Gần đây, một số ngân hàng liên tục huy động tiền gửi mới để trả lãi tiền gửi cũ vì lãi dự thu chưa thu được, ngân hàng chưa có tiền. Như vậy, lợi nhuận của ngân hàng chính là được ghi nhận từ nghiệp vụ mang tính kỹ thuật này. Nếu khoản lãi dự thu cuối cùng không thu được, thì một khoản lợi nhuận cho vay, nhẽ ra thu lãi định kỳ sẽ phải ghi nhận vào cuối kỳ, rồi nhập vào gốc. Đây là một vấn đề lớn.

“Nếu nhà điều hành không có giải pháp điều chỉnh kịp thời, nhiều ngân hàng sẽ lâm vào khó khăn thanh khoản, sức khoẻ tiếp tục mong manh gây áp lực nặng nề hơn cho DN cũng như sự phát triển của nền kinh tế”, Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia Vũ Viết Ngoạn khuyến cáo.              

Châu Minh
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.