Bộ Công Thương đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó, Bộ đề xuất điều kiện để tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép kinh doanh.

Cụ thể, để được thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa nhằm mục đích kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh, Giấy phép lập cơ sở bán buôn, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ theo quy định.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện sau: Tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài thuộc các nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và trong điều ước quốc tế đó Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa; đáp ứng điều kiện hạn chế tiếp cận thị trường quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đồng thời, đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền nơi nhà đầu tư đăng ký quốc tịch/đăng ký thành lập cấp phép hoạt động trong lĩnh vực mà pháp luật quốc gia/vùng lãnh thổ đó có quy định về việc phải được cấp phép; đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy phép đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký thành lập tổ chức kinh tế.

Bên cạnh đó, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có nguồn tài chính đảm bảo hoạt động kinh doanh. Cụ thể, đối với trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới thành lập dưới 1 năm, nguồn tài chính được xác định trên cơ sở vốn điều lệ đối với công ty, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, vốn đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn kinh doanh đối với các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Đối với trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập từ 1 năm trở lên, ngoài nguồn tài chính trên, nguồn tài chính còn được đánh giá thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ thuế, tài chính khác với Nhà nước Việt Nam. Trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh lỗ 3 năm liên tiếp tính đến thời điểm đề nghị cấp Giấy phép phải có giải pháp bù đắp vốn thỏa đáng.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có năng lực, kinh nghiệm trong việc kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa; được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Điều kiện cấp Giấy phép lập cơ sở bán buôn, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ

Theo dự thảo, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép lập cơ sở bán buôn, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ nếu đáp ứng được những điều kiện sau: 1- Đã được cấp Giấy phép kinh doanh; 2- Mặt hàng kinh doanh tại cơ sở bán buôn, cơ sở bán lẻ phải phù hợp với nội dung quyền phân phối đã được cấp phép tại Giấy phép kinh doanh; 3- Địa điểm lập cơ sở bán buôn, cơ sở bán lẻ phải phù hợp với quy hoạch có liên quan của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi dự kiến đặt cơ sở bán buôn, cơ sở bán lẻ; 4- Có nguồn tài chính đảm bảo hoạt động kinh doanh theo quy định; 5- Được Hội đồng Kiểm tra nhu cầu kinh tế thông qua đối với trường hợp lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất theo quy định; 6- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Theo dự thảo các trường hợp không phải làm thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh, Giấy phép lập cơ sở bán buôn, Giấy phép lập cơ sở bán lẻ:
1- Nhà đầu tư nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài thông qua mua bán cổ phiếu trên sàn chứng khoán để góp vốn vào công ty đại chúng có kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa phù hợp với lộ trình do Bộ Công Thương công bố;
2- Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 23 Luật Đầu tư chỉ thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn (không gắn với thành lập cơ sở bán buôn) các hàng hóa phù hợp với lộ trình do Bộ Công Thương công bố;
3- Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (trừ trường hợp nêu tại Điểm 2) có kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, có nhà đầu tư nước ngoài là cổ đông hoặc thành viên tổ chức kinh tế, nhưng không có quyền thông qua quyết định của tổ chức kinh tế theo quy định tại điều lệ của tổ chức kinh tế.
Theo VGP
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.