(ĐTCK) Từ nay đến cuối năm, các tập đoàn, tổng công ty, DNNN sẽ cấp tập thoái vốn đầu tư. Điều này gây ra lo ngại về nguồn cung lớn cho thị trường và khả năng khó thành công của các đợt thoái vốn. 

Để đạt được mục tiêu đề ra, bài viết của chuyên gia Trần Tiến Cường, nguyên Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đề xuất một số giải pháp.

Chưa phân biệt rạch ròi giữa 2 loại thoái vốn nhà nước

Thoái vốn nhà nước trước đây được triển khai tại các DN đã cổ phần hóa (CPH), chủ yếu tại các DN quy mô nhỏ của các địa phương và của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Gần đây, việc thoái vốn nhà nước còn được thực hiện tại cả các DN 100% vốn nhà nước. Thực tế, có 2 loại thoái vốn nhà nước: thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo chủ trương tái cơ cấu DNNN và thoái vốn nhà nước từ các DN đã CPH.

Thoái vốn đầu tư ngoài ngành là giải pháp tái cơ cấu DNNN nhằm thu hẹp ngành, lĩnh vực đầu tư để giải quyết tình trạng đầu tư dàn trải nhằm tập trung đầu tư vào ngành, lĩnh vực kinh doanh chính. Đây là hoạt động tái cơ cấu DNNN. Thoái vốn nhà nước từ các DN đã CPH là giảm bớt tỷ lệ cổ phần nhà nước tại DN sau CPH. Đây là tiếp tục quá trình CPH ở giai đoạn sau CPH, hay có thể gọi là CPH thứ cấp.

Thực tế hiện nay ở nước ta chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa 2 loại thoái vốn này. Cụ thể, chưa xác định rõ tính chất, mục tiêu, thẩm quyền quyết định đối với từng loại thoái vốn. Vẫn còn tình trạng đánh đồng giữa thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo chủ trương tái cơ cấu DNNN và thoái vốn tại các DN có vốn nhà nước ở giai đoạn sau CPH. Điều này dẫn đến không ít nghịch lý trong thực hiện cả 2 loại thoái vốn.

Thứ nhất, thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính là việc điều chỉnh vốn đầu tư, điều chỉnh hoạt động đầu tư tại DN và điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính tại DN khác. Đó là việc sử dụng vốn kinh doanh của DN, thuộc quyền của DN, do bộ máy quản trị DN quyết định. Tuy nhiên, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành đang diễn ra đồng loạt theo quy định hành chính của cơ quan nhà nước, bất kể thực trạng hiệu quả sử dụng vốn, triển vọng sử dụng vốn, tiềm lực vốn, năng lực quản trị của DN. Điều này vừa can thiệp vào quyền kinh doanh của DN, vừa thiếu tính kinh tế vì chưa tính đến thực trạng và triển vọng đầu tư của DN trong ngành kinh doanh chính, cũng như đầu tư của DN vào các ngành kinh doanh ngoài ngành kinh doanh chính.

Thứ hai, thoái vốn nhà nước từ các DN đã CPH là điều chỉnh vốn điều lệ, tức là điều chỉnh vốn chủ sở hữu nhà nước. Đó là hoạt động sử dụng vốn chủ sở hữu, là thuộc quyền của cổ đông nhà nước - chủ sở hữu nhà nước, không phải quyền của DN (trừ DN là công ty con của DN mẹ). Vậy nhưng, hiện chưa có các quy định, các căn cứ hay tiêu chí để thoái vốn nhà nước từ DN đã CPH. Quyền quyết định thoái vốn nhà nước cũng không nhất quán với quyền quyết định cổ phần hoá. Quyết định cổ phần hoá được căn cứ vào các tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ xét duyệt (theo Quyết định ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN). Cổ phần hoá xong thì không còn tiêu chí để giảm hoặc tăng cổ phần nhà nước, thẩm quyền xem xét quyết định cũng “hạ cấp” giao cho các bộ, UBND cấp tỉnh. Rõ ràng, đây là một vấn đề cần phải giải quyết để có cơ sở để giám sát quyền lực, nhất là tới đây, số lượng DN 100% vốn nhà nước sẽ giảm mạnh. Số DN có vốn nhà nước chi phối sẽ tăng lên, trong số này có nhiều DN lớn gồm tập đoàn kinh tế, tổng công ty ở ngay trong các ngành, lĩnh vực quan trọng.

Kinh nghiệm tại nhiều nước cho thấy, việc tăng, giảm vốn nhà nước tại DN được quy định chặt chẽ vì đó là quyền chủ sở hữu nhà nước, quyền này thuộc về Nghị viện, Quốc hội. Ví dụ, tại Thuỵ Điển, việc mua bán cổ phần của DN mà Chính phủ sở hữu trên 50% cổ phần có quyền biểu quyết thì phải được Quốc hội phê chuẩn; Chính phủ không được phép bán bớt cổ phần thấp dưới mức mà Quốc hội đã thông qua. Đối với Phần Lan, chỉ khi Quốc hội cho phép thì mới được giảm cổ phần nhà nước xuống dưới mức chi phối (trên 2/3 tổng số phiếu có quyền biểu quyết), dưới mức đa số (trên 1/2 tổng số phiếu có quyền biểu quyết), dưới mức thiểu số (trên 1/3 tổng số phiếu có quyền biểu quyết).

Cần điều chỉnh cách thức thoái vốn đầu tư ngoài ngành

Để có thể đẩy nhanh quá trình thoái vốn ngoài ngành trong bối cảnh sức cầu trên thị trường còn yếu, cần xem xét điều chỉnh cách thức thoái vốn đầu tư ngoài ngành hiện nay để thực hiện theo một số nguyên tắc sau:

Một là, Nhà nước chỉ nên đưa ra chủ trương thoái vốn đầu tư ngoài ngành và đưa ra một số nguyên tắc chung, căn cứ vào đó để DN áp dụng. Nhà nước không nên quy định cụ thể tỷ lệ phần trăm thoái vốn vì như vậy là can thiệp sâu vào DN, trái với nguyên tắc thị trường và thể chế thị trường chúng ta đang xây dựng và hướng tới.

Hai là, Nhà nước chỉ hành xử trên tư cách và với tâm thế của nhà đầu tư, cổ đông nhà nước, thực hiện quyền của nhà đầu tư, cổ đông nhà nước, chứ không phải với tư cách cơ quan quản lý nhà nước. Không nên chuyển tải ý chí Nhà nước bằng các quy định có tính quy phạm pháp luật có hiệu lực chung.

Ba là, thoái vốn đầu tư ngoài ngành cần căn cứ đặc điểm của từng DN: chủ yếu là hiệu quả đầu tư trong và ngoài ngành; tiềm lực tài chính DN; triển vọng ngành kinh doanh chính; sản phẩm ngành kinh doanh chính đang ở giai đoạn nào, nếu ở giai đoạn thoái trào thì cần xem lại chính sách thoái vốn ngoài ngành kinh doanh chính, để chuyển sang đầu tư ngành kinh doanh chính mới triển vọng hơn.

Bốn là, đối với DN đang kinh doanh có hiệu quả ở cả ngành kinh doanh chính và ngoài ngành kinh doanh chính, thì quyền quyết định thoái vốn đầu tư ngoài ngành cần trao cho bộ máy quản trị, điều hành của DN căn cứ theo tín hiệu thị trường.

Năm là, áp dụng những nguyên tắc trên cho cả DN CPH có vốn nhà nước chi phối thông qua quyền lực của cổ đông chi phối tại DN, trực tiếp là người đại diện phần vốn tại DN. 

Cải thiện quản trị doanh nghiệp

Bên cạnh việc thoái vốn tại DNNN, một vấn đề khác không kém phần quan trọng là cải thiện quản trị DN theo hướng hiện đại tại các DN sau CPH, hoặc có vốn nhà nước. Trên thực tế, quản trị DN tại các DN chuyển từ DNNN thành công ty cổ phần nhìn chung chưa có nhiều chuyển biến. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.

Thứ nhất, nhận thức chưa đúng, thậm chí sai lệch về quản trị DN, coi cải thiện quản trị DN là cải thiện quản lý điều hành sản xuất - kinh doanh như cải thiện quản lý về tài chính, nhân sự, tiền lương, sản xuất, thương mại... Không ít DNNN khi được hỏi ý kiến đều nghiêng về nhận thức như vậy và triển khai theo hướng này. Trong khi đó, cải thiện quản trị DN là áp dụng các nguyên tắc quản trị DN hiện đại theo thông lệ kinh tế thị trường, ví dụ các quy tắc của OECD, đó là: tạo điều kiện để cổ đông thực hiện quyền cổ đông và bảo vệ quyền của cổ đông; đối xử bình đẳng với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số; các bên liên quan được tiếp cận các thông tin phù hợp, đầy đủ, tin cậy, kịp thời và thường xuyên; tăng cường minh bạch hóa và công bố thông tin quan trọng của DN; tăng cường trách nhiệm và tính giải trình của HĐQT, đảm bảo để HĐQT hoạt động vì lợi ích cao nhất của DN và của cổ đông.

Thứ hai, Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến các DN sau CPH và quản trị DN của các DN này. Mọi nỗ lực đổi mới, sắp xếp, tái cơ cấu DN trong hơn 20 năm qua gần như chỉ tập trung vào DN 100% vốn nhà nước và thông qua giải pháp CPH là chính. Đã có rất nhiều văn bản được ban hành cùng với những nỗ lực thực hiện CPH.

Ngược lại, có rất ít văn bản hướng dẫn và chỉ đạo triển khai, cũng như rất ít nỗ lực thực hiện nhằm cải thiện quản trị DN tại các DN có cổ phần chi phối hay kiểm soát của Nhà nước ở giai đoạn sau CPH. Nhiệm vụ đổi mới quản trị DN theo thông lệ kinh tế thị trường đã trở thành vấn đề cấp thiết sau khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007) được giao cho các bộ, ngành và DN triển khai thực hiện từ năm 2012.

Đây cũng là một trong những nhiệm vụ của tái cơ cấu DNNN. Tuy nhiên, chưa có các văn bản hướng dẫn tiếp theo, đồng thời việc triển khai thực hiện rất chậm. Trong khi đó, đối với DN có cổ phần chi phối hay kiểm soát của Nhà nước, thì thoái vốn nhà nước tại các DN này được coi là vấn đề trọng tâm trong những năm gần đây, mà không phải là cải thiện quản trị DN.

Thứ ba, các biện pháp tái cấu trúc DNNN còn thiên về khu vực DN có 100% vốn nhà nước, chưa chú trọng các biện pháp cải cách các DN sau CPH, nhất là DN Nhà nước còn nắm cổ phần chi phối. Các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và các cơ quan đổi mới DNNN mới chỉ quan tâm đến thực hiện kế hoạch sắp xếp, CPH, giao, bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp, mà chưa quan tâm quản trị DN sau CPH, quản lý phần vốn nhà nước, đặc biệt là DN có cổ phần chi phối của Nhà nước.

Trần Tiến Cường
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.