Tại Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, sáng nay (22/1), Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh đã có bài tham luận được đánh giá là "tâm huyết, thẳng thắn, nhìn thẳng vào tình hình đất nước".

Theo Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh, thành tựu Đổi mới là không thể phủ nhận. 30 năm đổi mới, thu nhập bình quân tăng gần 4 lần. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn còn là nước nghèo. Ta chưa bằng lòng, thỏa mãn với những gì đạt được, nhất là nhìn trong tương quan với các nước khu vực và thế giới có cùng điều kiện.

VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ TỤT HẬU 

Đầu thế kỷ 19, Việt Nam có quy mô đáng kể về dân số và kinh tế, bằng Malaysia và Singapore cộng lại, gấp 1,5 lần Thái Lan. Bình quân đầu người gần bằng mức trung bình thế giới. Nay thu nhập bình quân Việt Nam chỉ chưa bằng 1/5 mức trung bình của thế giới, khoảng 1/3 Thái Lan.

Mọi so sánh đều khập khiễng. Việt Nam phải trải qua chiến tranh nhưng cũng có 40 năm Hòa bình, 30 năm Đổi mới - thời gian dài tương đương để các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản trở thành nước phát triển.

Theo Bộ trưởng, yêu cầu Đổi mới và phát triển của Việt Nam càng cấp bách. Việt Nam đang trong giai đoạn ngắn ngủi còn lại của giai đoạn dân số vàng (tối đa 10 năm nữa). Động lực từ công cuộc Đổi mới đã dần hết phát huy tác dụng. Dư địa tăng trưởng nhờ lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên không còn nhiều lợi thế. Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Chấp nhận hội nhập tức là chấp nhận cạnh tranh. Nâng cao năng lực cạnh tranh là đòi hỏi sống còn.

Vì thế, cần Đổi mới nhanh, mạnh mẽ, tích cực và sâu rộng hơn nữa, nếu không muốn bị tụt lại phía sau, nền kinh tế trì trệ, kéo dài, rơi vào bẫy trung bình thấp, ông Vinh phân tích.

Việt Nam phải có mức tăng trưởng cao và ổn định liên tục trong 20 năm tới, với mức tăng GDP/người tăng 7%/năm, cần có mức GDP trung bình 8%/năm để đến 2035 đạt mức 15.000-18.000 USD/người. Để đạt mục tiêu này con đường duy nhất là tăng năng suất lao động.

Bộ trưởng nhắc lại, 5 năm trước, ĐH XI thông qua chiến lược kinh tế 2011-2020, nêu rõ kiên trì quyết liệt thực hiện Đổi mới. Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp. Đó là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả quá trình đổi mới và phát triển.

30 năm Đổi mới thành tựu lớn nhất, bao trùm nhất là chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Chính nó đã làm thay đổi căn bản đời sống của chúng ta, đưa đất nước phát triển. Nhưng 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước, hệ thống chính trị gần như không thay đổi. Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt trong hoàn cảnh chiến tranh nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí nó còn là rào cản, trở ngại cho sự phát triển.

Trong giai đoạn tới, việc đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách.

Đảng là lãnh đạo cao nhất của đất nước cần chủ động và nghiêm khắc đánh giá lại chính mình, thực hiện nghiêm chỉnh những nghị quyết mà Đại hội Đảng đã xác định, kiên quyết đổi mới cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, phương thức hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước, các đoàn thể chính trị để hoạt động có hiệu quả hơn, thực chất hơn. Đây là nhân tố kiên quyết, quan trọng nhất của quá trình đổi mới tiếp theo.

"Làm tốt điều này Đảng sẽ lấy lại niềm tin trong nhân dân bằng tấm gương tự đổi mới và sự lãnh đạo hiệu quả của mình đối với đất nước, dân tộc”, ông Vinh kiến nghị.

3 TRỤ CỘT ĐỔI MỚI KINH TẾ

Về đổi mới thể chế kinh tế, trọng tâm trong giai đoạn tới dựa trên 3 trụ cột chính.

Trụ cột 1: Thịnh vượng kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường.

Việt Nam phải có mức tăng trưởng cao và ổn định liên tục trong 20 năm tới, với mức tăng GDP/người tăng 7%/năm, cần có mức GDP trung bình 8%/năm để đến 2035 đạt mức 15.000-18.000 USD/người. Để đạt mục tiêu này con đường duy nhất là tăng năng suất lao động.

Paul Krugman tổng kết, năng suất không phải là tất cả nhưng về lâu dài là tất cả. Một quốc gia có khả năng nâng được thu nhập bình quân đầu người hay không phụ thuộc vào việc có nâng được năng suất lao động dựa trên đầu người hay không.

Mức tăng năng suất lao động của Việt Nam liên tục sụt giảm từ cuối những năm 1990 đến nay khiến năng suất lao động Việt Nam ở mức gần thấp nhất trong khu vực. Năng suất lao động ngay cả của khu vực tư nhân cũng liên tục sụt giảm và ở mức rất thấp.

Ông Vinh chỉ ra 3 nguyên nhân chính: 1) Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động lạc hậu. Lao động khu vực phi chính thức cao hơn rất nhiều khu vực chính thức, có tới hơn 44% lao động làm việc trong nông nghiệp, khu vực tạo giá trị gia tăng thấp. 2) Nền tảng kinh tế thị trường chậm hoàn thiện, gây phương hại đến quyền sở hữu tài sản, ảnh hưởng sự cạnh tranh trên thị trường hàng hóa. 3) Thị trường các yếu tố sản xuất: đất đai, khoáng sản được phân bổ không theo cơ chế thị trường, chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính.

Phải tập trung cao độ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong nước, mà chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, cả số lượng và chất lượng coi đây là nhiệm vụ của bộ máy hành chính các cấp. Sức khỏe của doanh nghiệp trong nước là sức khỏe của nền kinh tế.

Trước mắt phải nâng cao cho được năng lực cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp trong nước thông qua hoàn thiện, củng cố nền tảng của kinh tế thị trường. Đặc biệt là quyền sở hữu tài sản, các chính sách cạnh tranh công bằng, cạnh tranh lành mạnh trong tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên và thông tin.

Phải thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp. Nhà nước phải tạo dựng môi trường thuận lợi, xây dựng trung tâm hướng dẫn và đào tạo cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Cung cấp kiến thức và nguồn vốn thông qua hình thành các quỹ, ngân hàng đầu tư mạo hiểm, nhằm tạo ra làn sóng khởi nghiệp và tinh thần cạnh tranh mạnh mẽ trong xã hội. Phải coi vị thế của doanh nghiệp là vị thế của quốc gia.

Để duy trì tăng trưởng cao trong một thời gian dài, bền vững, cần tăng cường cải cách, tích cực đẩy mạnh học hỏi, và đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp và tổ chức nghiện cứu hiện chưa có động lực theo đuổi chương trình tăng năng suất. Xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia chính là cách thức để tăng năng suất quốc gia.

Trụ cột 2: Công bằng và hội nhập xã hội, hay còn gọi là bình đẳng cho mọi người. Bên cạnh sự phát triển nhanh, vận động theo quy luật thị trường, sự cạnh tranh gay gắt sẽ tạo ra và gia tăng khoảng cách giàu nghèo, cơ hội tiếp cận các phúc lợi xã hội cơ bản.

Bên cạnh chính sách phát triển kinh tế nhanh, mạnh mẽ, chúng ta phải xây dựng được những chính sách đảm bảo công bằng trong phát triển. Cũng như cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người dân, nhất là đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội.

Đây là tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, cũng là trách nhiệm của nhà nước trong thực hiện đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Trụ cột 3: Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước. Năng suất trì trệ hiện nay và sự yếu kém trong phát triển khu vực tư nhân là do nhà nước còn thiếu hiệu quả. Do điều kiện lịch sử của Việt Nam, những thiết chế công bị thương mại hóa, cát cứ, manh mún, và thiếu sự giám sát của người dân.

Hiệu lực của nhà nước dựa trên 3 trụ cột hỗ trợ: Chính phủ được tổ chức với công chức thực tài và có kỷ luật. Phải nỗ lực để xử lý các vấn đề, tạo ra một cấu trúc nhà nước chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn, đảm bảo chế độ chức nghiệp thực tài. Hai là, nguyên tắc thị trường cần được áp dụng đầy đủ hơn trên cơ sở định rõ các lĩnh vực công – tư, hạn chế xung đột lợi ích. Cũng như việc tăng cường bảo vệ quyền tài sản, đặc biệt về đất đai, thực thi cạnh tranh thị trường, hợp lý hóa sự tham gia của nhà nước trong nền kinh tế.

Ba là, nâng cao hơn nữa trách nhiệm giải trình thông qua việc xây dựng cơ chế hữu hiệu về kiểm soát và cân bằng giữa 3 nhánh quyền lực, tạo dựng khung khổ pháp lý thúc đẩy quyền công dân, đảm bảo quyền tiếp cận chính xác, kịp thời của công dân, tăng vai trò của thông tin đại chúng.

Khung khổ pháp lý của Việt Nam đã tạo không gian nhất định cho người dân tham gia quá trình quản trị nhà nước. Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là những điều đã được khẳng định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa cam kết này với thực tiễn tham gia của người dân. Quy trình bầu cử - cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức xã hội chưa thực sự bảo đảm sự tham gia đích thực của người dân.

6 chuyển đổi lớn

Ông Vinh cho biết, 3 trụ cột ông đề cập cũng là nội dung được nêu trong báo cáo Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ mà Bộ Kế hoạch Đầu tư và các chuyên gia kinh tế trong nước và thế giới đề xuất. Báo các xác định kinh tế Việt Nam đang ở đâu, mục tiêu khát vọng là gì, cản trở nào cho Việt Nam hiện nay.

Bên cạnh 3 trụ cột, báo cáo phác thảo 6 chuyển đổi lớn:

1, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại, với kinh tế thị trường đầy đủ, và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao

2, thúc đẩy hiện đại hóa nền kinh tế song hành với nâng năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân.

3, phát triển năng lực đổi mới, sáng tạo, lấy khu vực tư nhân làm trung tâm.

4, đảm bảo công bằng xã hội cho nhóm yếu thế và thúc đẩy nhóm trung lưu phát triển.

5, phát triển bền vững về môi trường, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.

6, gia tăng mật độ kinh tế trong quá trình đô thị hóa, tăng sự kết nối giữa thành phố và các vùng lân cận.

Zing
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.