(ĐTCK) Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 9 tháng năm 2016 vừa công bố cho thấy, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã và đang gặp nhiều khó khăn do than tiêu thụ giảm mạnh và tồn kho tăng cao.

Theo báo cáo tại Hội nghị trực tuyến giao ban điều hành sản xuất tháng 9 và triển khai nhiệm vụ tháng 10/2016 vừa diễn ra, trong tháng 9/2016, các chỉ tiêu chính Tập đoàn thực hiện cơ bản đạt kế hoạch.

Tính chung 9 tháng năm 2016, sản lượng than nguyên khai thực hiện toàn Tập đoàn đạt 26,7 triệu tấn, bằng 67% kế hoạch năm; sản lượng than tiêu thụ đạt 25,7 triệu tấn, tương đương gần 80% kế hoạch. Tuy nhiên, than tồn kho đang ở mức khá cao, lên tới 10,8 triệu tấn, trong đó có 8,9 triệu tấn than sạch.

Đối với các lĩnh vực sản xuất khác, nhìn chung kết quả 9 tháng cơ bản đạt chỉ tiêu. Cụ thể, sản xuất, tiêu thụ điện đạt 6,2 tỷ kWh, bằng 67% kế hoạch năm; sản xuất, tiêu thụ thuốc nổ đạt 46.950 tấn, bằng 72% kế hoạch năm; sản xuất các loại khoáng sản đồng tấm, kẽm thỏi, Alumin cũng đạt mức trung bình.

Với kết quả này, doanh thu toàn Tập đoàn 9 tháng năm 2016 ước đạt 71.460 tỷ đồng, bằng 65% kế hoạch năm và bằng 98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu từ than đạt 36.900 tỷ đồng, bằng 65% kế hoạch năm và bằng 98% so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập bình quân đạt 8,405 triệu đồng/người/tháng.

Theo đánh giá của Ban lãnh đạo TKV, trong 9 tháng đầu năm, tình hình sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn hết sức khó khăn do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, nhu cầu chậm lại, trong khi năng lực sản xuất nhiều nước còn cao cho nên giá giảm mạnh và than nhập khẩu về Việt Nam tăng. Theo báo cáo, chỉ riêng nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2016 đã lên tới trên 8 triệu tấn, chiếm hơn 1/4 thị trường Việt Nam. Đặc biệt, năm 2016, nhu cầu tiêu thụ của nhiều nước giảm, theo đó phải điều chỉnh giảm thuế để ổn định sản xuất, việc làm, đời sống cho công nhân mỏ.

Trong khi đó, đối với than trong nước, các loại thuế, phí trong giá thành các năm gần đây liên tục tăng. Chỉ tính riêng thuế tài nguyên của Việt Nam đã cao hơn 7 - 10% so với các nước trong khu vực, trong khi thuế xuất khẩu than của nhiều nước là 0%, thuế nhập khẩu than vào Việt Nam hiện nay là 0%. Vì vậy, than các nước bán vào Việt Nam tăng nhanh đã gây sức ép lên thị trường tiêu thụ than trong nước, buộc TKV phải giảm sản xuất, ảnh hưởng tới việc làm, lợi nhuận giảm mạnh, kéo theo tổng số nộp ngân sách Nhà nước cũng giảm, ảnh hưởng đến hệ số tín nhiệm của TKV trên trường quốc tế, khiến phải vay lãi suất cao hơn, chi phí tăng.

Bên cạnh đó, theo Phó Tổng giám đốc TKV Nguyễn Văn Biên, doanh thu giảm nhanh hơn sản lượng vì than xuất khẩu của TKV giảm, bằng 30% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là cuối tháng 4/2016, Chính phủ có văn bản cho phép xuất khẩu than chất lượng cao mà trong nước không sử dụng, khiến các khách hàng lớn đã chuyển sang ký hợp đồng mua than của nước khác. Việc cấp phép xuất khẩu hàng năm cũng làm cho ngành than không chủ động được sản xuất, đồng thời không sử dụng được lợi thế hợp đồng xuất khẩu dài hạn để vay vốn ưu đãi và các cơ chế hỗ trợ khác của nước nhập khẩu than.

Trước những khó khăn này, Tổng giám đốc TKV Đặng Thanh Hải yêu cầu toàn Tập đoàn khẩn trương rà soát tổng thế các chỉ tiêu kế hoạch mục tiêu cả năm, đặc biệt những chỉ tiêu khó có khả năng hoàn thành để có giải pháp chỉ đạo, điều hành phù hợp, kịp thời. Trong đó, chú trọng đảm bảo duy trì sản xuất, thu hồi công nợ; ổn định việc làm, thu nhập của người lao động; đẩy mạnh tiêu thụ than và đảm bảo cung cấp đủ than cho nền kinh tế. Đặc biệt, các đơn vị chế biến, kinh doanh than tập trung tiêu thụ than và nghiên cứu các phương án pha trộn than với than sản xuất tại vùng miền Tây để giảm tồn kho; không chế biến ra các chủng loại than hiện nay đang còn tồn nhiều.

Bên cạnh việc chủ động triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất tiêu thụ những tháng cuối năm, Ban lãnh đạo TKV cũng đề xuất Chính phủ, các bộ ngành quan tâm, giải quyết sớm những kiến nghị của Tập đoàn, đặc biệt là các vấn đề khó khăn về chính sách thuế, phí tài nguyên, phí cấp quyền khai thác; công tác quy hoạch các đầu mối nhập khẩu than, chính sách thuế đối với than nhập khẩu để đảm bảo bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất và tăng tiêu thụ than tại thị trường trong nước.

Hiếu Minh
Bình Luận (0)

Bài viết chưa có bình luận nào. Bạn nên dùng tiếng Việt có dấu khi bình luận.