(ĐTCK) Đó là nhận định của các chuyên gia phân tích của Công ty Chứng khoán MB (MBS) trong buổi hội thảo định kỳ có chủ đề: “Việt Nam - Điểm sáng trong bối cảnh rủi ro toàn cầu tăng lên” vừa diễn ra tại TP. HCM”.

Bộ phận phân tích của MBS đã thống kê các lần giảm của giá dầu trong lịch sử và nhận thấy, giá dầu suy giảm cực kỳ mạnh tại các thời điểm chiến tranh vùng Vịnh (1991), OECD suy thoái (1992-1994), khủng hoảng kinh tế châu Á và sản lượng khai thác của OPEC dư thừa (1996-1998), suy thoái kinh tế ở EU và Mỹ (2001); khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2008) thì giá dầu suy giảm trung bình 54% và giảm tới 71% so với mức đỉnh đã thiết lập trước đó.

Xu hướng giá dầu giảm từ 2014 đến nay mới ở mức 39%, chưa bằng mức giảm trung bình của các thời điểm trước đó. Điểm khác biệt của sự suy giảm giá dầu lần này là do dư cung dầu đá phiến, khiến cung dầu mỏ toàn thế giới gia tăng. Các nước xuất khẩu dầu mỏ có chi phí thấp đẩy mạnh xuất khẩu để giữ thị phần cạnh tranh với dầu đá phiến của Mỹ.

Ở một số nước xuất khẩu dầu mỏ, chi phí khai thác trong nội địa chỉ khoảng 10-12 USD/thùng. Nếu bán dưới 20 USD thì họ vẫn có tỷ suất lợi nhuận tốt, nên họ sẵn sàng đẩy mạnh xuất khẩu để duy trì ảnh hưởng trên thị trường thế giới.

 Các chuyên gia MBS không khuyến nghị đầu tư vào cổ phiếu dầu khí thời gian tới
Dự báo cung dầu mỏ tiếp tục gia tăng trong nửa đầu 2016 sau đó mới giảm dần. Yếu tố cung này còn chưa tính tới việc dỡ bỏ qui định cấm xuất khẩu dầu của Mỹ và  Iran được bỏ cấm vận trong nửa đầu năm sau.
Trong khi đó, đồng USD có xu hướng tăng giá. Đó là ba lý do khiến giá dầu có thể tiếp tục giảm và tạo đáy theo hình chữ U, tức ở mức thấp trong thời gian dài cho đến khi nguồn cung giảm lại do cạnh tranh về chi phí khiến số lượng các mỏ dầu dừng hoạt động tăng lên.

Khi giá dầu giảm, đương nhiên kế hoạch thăm dò, khai thác mới của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ chững lại, nên nguồn công việc của các công ty trong Tập đoàn phụ thuộc vào hoạt động của Tập đoàn cũng sẽ chững lại.

Đương nhiên, nếu khối lượng công việc giảm thì doanh thu lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành như PVD, PXS… cũng kém khả quan hơn, biên lợi nhuận có thể giảm trong thời gian tới.

 
Đó là lý do MBS không khuyến nghị đầu tư cổ phiếu dầu khí trong thời gian tới. Trong số các cổ phiếu dầu khí thì cổ phiếu mà ngành hoạt động trong phân khúc hạ nguồn có thể hưởng lợi bởi cơ chế giá khí thả nổi linh hoạt theo giá dầu cho cả giá bán và giá mua, sản lượng khí dự kiến tăng nhờ các khách hàng hộ công nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, việc suy giảm của giá dầu khuyến khích các khách hàng tiêu thụ khí chuyển sang dùng sản phẩm khí CNG với nhiều ưu điểm vượt trội về hiệu quả kinh tế.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nếu nhà đầu tư nào nắm bắt được thời điểm phục hồi của giá dầu thì có thể quan tâm tới cổ phiếu dầu khí.

Theo IEA, dự báo giá dầu phải trở về mức cân bằng trên 60 USD/thùng vào năm 2020 để đảm bảo mức IRR kỳ vọng trên 10%. Dù vậy, trong 2 năm tới, giá dầu khó về 60 USD/thùng.

Nhận định của MBS cũng trùng với nỗi lo của các doanh nghiệp trong ngành dầu khí hiện nay. Nhiều doanh nghiệp tiếp tục cắt giảm chi phí tối đa bao gồm cả lương thu nhập của người lao động để đối phó với kịch bản giá dầu.

Theo thống kê, các công ty dầu khí trên thế giới phản ứng trước việc giảm giá dầu bằng cắt giảm chỉ tiêu đầu tư và cắt giảm chi phí hoạt động. Xu hướng tăng cường các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí liên tục tăng trưởng mạnh từ mức hơn 250 tỷ USD năm 2000, lên mức 850 tỷ USD trong năm 2014. Chi phí hoạt động tăng nhanh trong 10 năm qua, từ mức dưới 4 USD/thùng năm 2003 lên gần 14 USD/thùng năm 2014.                      

Phan Hằng
Bình Luận (1)

Phong - 11:22 25/12/2015

Nhận định sai lầm, không phân biệt được Production Cost với Fiscal Break Even Point Prices. Giá vốn oil có thể 10-20 usd/thúng, nhưng giá kèm chi phí, thuế, v.v...có thể cao gấp nhiều lần để đạt điểm cân bằng. Ví dụ giá vốn oil Saudi Arabia là 10, nhưng giá cân bằng phải là 105 theo Reuteurs và Deutchs Bank.