|
| |
(ĐTCK) Lạm phát nhiều khả năng sẽ hạ nhiệt trong năm nay, song vẫn khó về một con số do vẫn còn những nhân tố gây áp lực tăng.
Nhìn lại tình hình lạm phát năm 2011
Lạm phát năm 2011 chốt ở mức tăng 18,13% so với năm ngoái (trung bình cả năm là 18,58%), mặc dù theo đúng kế hoạch mà Chính phủ đã điều chỉnh nhưng vẫn cao hơn nhiều so với kế hoạch từ đầu năm.
4 nhóm mặt hàng có mức tăng cao nhất trong rổ hàng hóa tính CPI bao gồm: lương thực và thực phẩm (24,8%), giáo dục (20,41%), phương tiện đi lại (19,04%) và nhà ở và vật liệu xây dựng (17,29%). Trong đó, đáng chú ý nhất là nhóm lương thực và thực phẩm, nếu loại trừ nhóm này thì CPI chỉ tăng khoảng 7,8% trong năm 2011.
Tại sao vậy? Thông thường, tình trạng giá cả leo thang có thể do tác động từ chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài khóa mở rộng. Trên thực tế, tăng trưởng tín dụng trước năm 2011 cao hơn nhiều (ở mức 28 - 50% so với khoảng 12% năm 2011), nhưng trong năm 2011, Việt Nam liên tục theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt, đồng thời cố gắng giảm đầu tư công cũng như giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 5% GDP.
|
Đồ thị 1: Tăng trưởng M2 và CPI theo năm |
Đồ thị 2: Tăng trưởng tín dụng bằng VND và USD năm 2011 |

Đồ thị 1 cho thấy, năm 2011, tác động của chính sách tiền tệ lên lạm phát có độ trễ lớn hơn (từ khi bắt đầu vào tháng 12/2010, phải đến 10 tháng sau, chính sách thắt chặt mới có tác dụng khiến cho lạm phát được hạ nhiệt). Trên thực tế, mặc dù được thắt chặt tăng trưởng, M2 vẫn cao ở mức 20% vào tháng 6/2011. Vào thời điểm đó, chính sách thắt chặt vẫn còn có thể được tiếp tục áp dụng.
Mặt khác, bên cạnh tăng cung tiền còn có nhiều yếu tố khác khiến cho lạm phát 2011 tăng mạnh. Trong đó, có thể kể đến các yếu tố quan trọng nhất như việc giá cả hàng hóa tăng mạnh và cơ chế trợ giá đối với một số hàng hóa và dịch vụ chính. Về giá cả hàng hóa, chỉ số giá hàng hóa Reuters-Jeffries đã tăng 11,3% vào đỉnh tháng 4/2011 so với cuối năm 2010 đã tác động mạnh lên lạm phát nửa đầu năm 2011.
Hơn nữa, cho đến nay, giá bán một số hàng hóa và dịch vụ cơ bản như điện, than, xăng và giáo dục đều được trợ cấp và hầu hết đều do các doanh nghiệp nhà nước điều hành. Thông qua cơ chế này, đôi khi mức gia tăng trong chi phí đầu tư và các chi phí đầu vào khác không được chuyển vào giá bán một cách trơn tru. Do đó, có những thời điểm giá bán đột ngột tăng để bù đắp cho chi phí đầu vào.
Điều này thực tế đã xảy ra với giá điện và học phí trong năm 2011. Do đây là các hàng hóa và dịch vụ cơ bản, hiệu ứng domino xảy ra lan truyền đến tất cả các hàng hóa và dịch vụ khác. Điều này cũng lý giải tại sao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là một yếu tố quan trọng tác động lên lạm phát.
Cụ thể hơn, dưới đây chúng tôi phân tích sâu hơn về các nhóm hàng hóa và dịch vụ:
Lương thực và thực phẩm, nguồn gốc chính của lạm phát
Tỷ trọng lương thực và thực phẩm trong rổ CPI hiện là 39,93%, gần tương đương với ước tính của USDA đối với các quốc gia có thu nhập thấp là 42,9%, trong khi mức trung bình của các quốc gia có thu nhập trung bình và cao tương ứng là 25,3% và 16,2%.
Do mặt hàng thịt chiếm tỷ trọng cao trong rổ CPI, nên chỉ tính riêng mức tăng giá của thịt lợn đã khiến cho lạm phát tăng mạnh (giá thịt tăng 10% dẫn đến gần 1,1% mức tăng CPI).
Một số nguyên nhân dẫn đến biến động giá cả thực phẩm có thể kể đến như sau:
(i) Giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh: giá thức ăn chăn nuôi trong năm 2011 đã tăng khoảng 30% so với năm ngoái, có thể do hầu hết đầu vào được nhập khẩu từ nước ngoài trong khi đồng nội tệ đã mất giá gần 10% kể từ tháng 2/2011. Cần lưu ý rằng giá bán lẻ thức ăn chăn nuôi tăng nhanh hơn giá đầu vào.
(ii) Mạng lưới phân phối yếu kém: kênh phân phối hiện đại không sẵn có, thiếu nhà kho và các thương lái vẫn chi phối thị trường. Tuy đây không phải là vấn đề mới của Việt Nam, nhưng tác động tiêu cực của nó có lẽ đã bị phóng đại trong năm 2011.
(iii) Tỷ lệ trao đổi bất lợi đối với các mặt hàng nông sản: Chúng tôi tin rằng, người nông dân cũng nhận thấy tỷ lệ trao đổi đối với hàng hóa nông sản (so với hàng công nghiệp) là khá bất lợi và họ buộc phải nâng giá bán để đối phó với lạm phát.
(iv) Mậu dịch qua biên giới (hay cụ thể hơn, ở một số thời điểm thương lái Trung Quốc đã mua khối lượng lớn lương thực và thực phẩm từ Việt Nam) đã gây nhiều ảnh hưởng lên mức giá lương thực và thực phẩm trong nước.
Các nhóm hàng khác
Về phương tiện đi lại, giá xăng và dầu diesel đã tăng tương ứng 26,8% và 41% và hai lần điều chỉnh mạnh nhất đều xảy ra vào quý I/2011, tác động đến các hàng hóa và dịch vụ khác.
Đối với giáo dục, xu hướng tăng bắt đầu từ năm 2010 khi nhóm này đã tăng 19,3% do các trường học được phép nâng học phí để bù đắp chi phí.
Thống kê tăng giá trong năm 2011 và ước tính năm 2012
|
|
2011 |
2012 (ước tính) |
Ghi chú |
|
Điện |
21,08% (tăng 227 đ/kWh) |
10%-15% |
Tăng 15,2% vào tháng 3/2011; 5% vào tháng 12/2011 |
|
Nước |
10% |
Tăng tối đa 50% |
|
|
Than |
43,8% (tăng 985.000 đ/tấn) |
Tăng ít nhất 5% |
Tăng 28,8% vào tháng 4/2011; 15% vào tháng 8/2011 |
|
Xăng A92 |
26,8% (tăng 4.400 đ/l) |
Dự kiến áp lực tăng sẽ giảm |
Từ 28/12/2011, áp dụng thuế nhập khẩu 4% |
|
Dầu diesel |
41% (tăng 6.050 đ/l) |
Dự kiến áp lực tăng sẽ giảm |
Từ 11/2012, áp dụng thuế nhập khẩu 5% |
|
Gas |
6% (tăng 20.000 đ/12kg) |
Dự kiến áp lực tăng sẽ giảm |
Tăng 9 lần và giảm 6 lần trong năm 2011. |
|
Vé máy bay |
~28% |
|
Tăng ~8% vào tháng 5/2011; tăng 20% vào tháng 12/2011 |
|
Vé tàu hỏa |
5%-18% |
|
|
|
Sữa |
8%-19% |
|
|
|
Thịt |
50% |
Dự kiến áp lực tăng sẽ giảm |
|
|
Lương tối thiểu |
13,7% (tăng 100.000 đ) |
26,5% (220.000đ) |
Từ 1/5/2012, lương tối thiểu tăng lên 1.050.000 đ/tháng |
|
Sách giáo khoa |
17% |
|
|
|
Học phí |
|
|
Từ tháng 9/2011, đối với giáo dục phổ thông: 3 TP lớn: không đổi Các tỉnh khác: mức tăng từ 0 - 700% |
|
Mất giá VND |
10,01% |
5%* |
|
Nguồn: SSI Research; *Ước tính của SSIResearch
Triển vọng 2012
Mặc dù việc CPI tăng trở lại vào quý IV/2011 gây ra nhiều lo ngại, nhưng trên thực tế, nếu loại trừ yếu tố thời vụ, CPI rõ ràng đang có xu hướng giảm.
Ñoà thò 3: CPI Vieät Nam 2009-2011 (tính theo naêm, ñieàu chænh theo yeáu toá muøa vuï)
Nguoàn: Toång cuïc Thoáng keâ, Öôùc tính cuûa SSI
Về phía cung, giá cả hàng hóa hiện đang ở trong xu hướng giảm (do đồng USD tăng giá và triển vọng tăng trưởng kém hơn), đặc biệt là giá thức ăn chăn nuôi. Giá xăng có xu hướng giảm, tuy nhiên vấn đề Iran có thể xảy ra bất cứ lúc nào là một nguy cơ thường trực.
Mặt khác, trong bảng tổng hợp, chúng tôi thấy các yếu tố sau có thể gây áp lực lên lạm phát:
(i) Tăng lương: Khoảng 59.300 tỷ đồng được dành cho tái cơ cấu tiền lương (số liệu năm 2011 chỉ là 27.000 tỷ đồng), một phần dùng để nâng lương cơ bản khoảng 26% từ tháng 5/2012. Những yếu tố chúng tôi đã nêu trên (như cơ chế trợ cấp, các vấn đề trong ngành lương thực và thực phẩm như mạng lưới phân phối, tỷ lệ mậu dịch, thương mại qua biên giới) vẫn chưa thể thay đổi trong chốc lát.
(ii) Đồng nội tệ mất giá, dự kiến khoảng 5% trong năm 2012.
(iii) Giá nhiên liệu tăng: dự kiến giá điện sẽ tăng 10 - 15%; giá than dự kiến tăng ít nhất 5%.
(iv) Mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn trong năm 2012 (15 - 17%) có thể gây áp lực xấu lên kỳ vọng lạm phát.
(v) Gói kích thích tăng trưởng có thể sẽ được đưa ra trong năm nay.
(vi) Đầu tư và chi tiêu công: được phân tích sâu hơn dưới đây.
Đầu tư và chi tiêu công - yếu tố quan trọng tác động lên lạm phát
Như đã nêu trên, kế hoạch chi ngân sách nhà nước là một yếu tố rất quan trọng có thể gây tác động lớn lên lạm phát. Kế hoạch thu và chi ngân sách năm 2012 tương ứng là 762.900 và 903.100 tỷ đồng, với thâm hụt ngân sách 140.200 tỷ đồng (4,8% GDP), tăng khoảng 16,67% so với số liệu thực tế năm 2011.
Chúng ta cần phải quan tâm đến việc thực hiện kế hoạch hơn là mục tiêu ban đầu. Thực tế, tăng trưởng đầu tư công trong năm 2011 vẫn cao, ở mức 25% so với -8% trong năm 2010.
Một tín hiệu tích cực là Chính phủ mới đây đã ra một chỉ thị với nội dung quản lý đầu tư công sẽ phải tiến hành nghiêm ngặt hơn. Chẳng hạn, Chính phủ sẽ không giải ngân vốn (từ ngân sách trung ương và trái phiếu chính phủ) từ năm 2012 mà không có sự chấp thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đây là một sửa đổi nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ việc phi tập trung hóa) và người phê chuẩn các dự án mà không làm sáng tỏ nguồn tài chính sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hiệu quả dự án.
Nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, Chính phủ đang cố gắng giảm tổng mức đầu tư từ 40% GDP (2006 - 2011) xuống 33,5 - 35% GDP từ năm 2012 và giảm tỷ lệ đầu tư công (43% tổng đầu tư phát triển xã hội trong giai đoạn 2006 - 2010 xuống 31,5 -33% từ năm 2012). Thay vào đó, Chính phủ phải thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân (ví dụ, PPP - mô hình hợp tác công - tư) và sử dụng đầu tư công như “đầu tư mồi”. Tuy nhiên, đây là một viễn cảnh rất xa và chúng ta cần một thị trường tài chính hiệu quả để hỗ trợ, mà ở thời điểm hiện tại vẫn chưa thể đạt được.
Tóm lại, áp lực lên giá tiêu dùng vẫn còn, nhưng đã bớt nghiêm trọng so với năm 2011 do việc tăng giá phần lớn đã được thực hiện trong năm 2011, chúng tôi kỳ vọng áp lực lên lạm phát năm 2012 của Việt Nam sẽ thấp hơn năm 2011, nhưng khả năng duy trì ở mức một con số là vô cùng khó khăn ở thời điểm hiện tại.
| |
| trân văn - - tranvan@yahoo.com.vn |
Năm 2012 nếu các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động đều tay, điều tiết được thị trường, chính sách tài khóa , đầu tư công hợp lý.TCTD được phân loại công khai,nhà nước phải độc quyên kd vàng miếng,hạn chế tối đa nhập siêu hàng tiêu dùng sa sỉ,doanh nghiệp vừa và nhỏ ,nông nghiêp được hỗ trợ hợp lý thì nội lực nền kt đất nước sẽ tăng CPI chắc chắn sẽ về 1 con số . |
Nhật ký mùa ĐHCĐ 2012 
