| |
Việc mua lại cổ phần của EVN Telecom thể hiện khát vọng của FPT muốn vào thị trường di động nhanh nhất - Ảnh: Hoài Nam | |
(ĐTCK-online) Sự kiện FPT mua hơn 50% cổ phần của EVN Telecom được giới báo chí về công nghệ thông tin bình chọn là 1 trong 10 sự kiện công nghệ thông tin - truyền thông tiêu biểu năm 2010.
Lâu nay, viễn thông vốn là lĩnh vực không ưu tiên cho các DN tư nhân, việc Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn thương vụ trên là dấu hiệu khởi đầu hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) giữa các mạng di động của Việt Nam.
Việc mua lại cổ phần của EVN Telecom thể hiện khát vọng của FPT muốn vào thị trường di động nhanh nhất bằng việc mua lại mạng di động đang cung cấp dịch vụ để tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có. Ông Nguyễn Thành Nam, Tổng giám đốc FPT cho hay, FPT có thể xin giấy phép kinh doanh dịch vụ di động, song chọn cách mua lại cổ phần của EVN Telecom, bởi đây là con đường nhanh nhất để Công ty có đầy đủ giấy phép kinh doanh dịch vụ như các hãng viễn thông công nghệ thông tin khác. Năm 2010, khi Viettel và VNPT rầm rộ triển khai dịch vụ 3G trên điện thoại di động và máy tính xách tay, FPT dù kinh doanh ngang ngửa dịch vụ ADSL với hai đại gia trên, tổng kết lại đã thua cuộc vì không thể triển khai 3G (không có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông). Vì thế, mặc dù S-Fone đang hụt hơi với công nghệ CDMA, EVN Telecom sử dụng công nghệ CDMA vẫn lọt vào tầm ngắm của FPT. Đầu tư cho mảng viễn thông cần vốn lớn, ông Nam cho hay, FPT sẽ thuyết phục được các nhà đầu tư đồng hành cùng DN.
Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch HĐQT KBC cho biết, trong thời điểm như hiện nay, M&A sẽ thuận lợi hơn nhiều so với thiết lập hoặc khởi sự từ đầu một nhà máy mới. Trong ngành bất động sản, mãi lực thị trường giảm với các khó khăn về huy động vốn, đã và đang thử sức chịu đựng của nhà đầu tư phát triển dự án, không ít trong số đó đã đuối sức phải tìm cách sang nhượng lại dự án của mình. Một số dự án bất động sản của KBC tại Hà Nội được mua lại theo hình thức ấy. Mới đây, một công ty trong Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn do ông Tâm làm Chủ tịch đã đầu tư ra nước ngoài, mua lại một nhà máy chuyên sản xuất đồng hồ Thụy Sỹ với kỳ vọng mang về Việt Nam một loại hình công nghệ cơ khí chính xác.
Mới đây, Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Prudential Vietnam đã mua lại phần vốn góp của Công ty Vina Development Inc của Hàn Quốc để đầu tư vào dự án căn hộ Blooming Park và đổi tên thành Imperia An Phú. Dự án được xây dựng tại phường An Phú, quận 2, TP. HCM trên diện tích hơn 2 héc-ta. Trong đó, CTCP Kiến Á và CTCP Đầu tư & Dịch vụ TP. HCM nắm giữ lần lượt 30% và 10% vốn trong dự án này.
M&A được dự báo là cách thức nhiều DN niêm yết lựa chọn trong năm 2011 nhằm mở rộng kinh doanh thay vì chọn cách đi từ đầu. Vinamilk không mua cổ phần của Hanoimilk như thị trường đồn đoán, nhưng mua lại các trang trại nuôi bò sữa của CTCP Mía đường Lam Sơn và xây dựng theo mô hình các trang trại hạt nhân. VNM sẽ đầu tư 5 trang trại và năm 2011, DN này sẽ nhập khẩu khoảng 10.000 con bò.
Với những DN năng động và có nguồn vốn dồi dào, sau M&A, dự án phát triển rất tốt. Đơn cử như CTCP Vinaconex Xuân Mai (XMC) chọn cách Nam tiến bằng việc hợp tác với các công ty, chủ đầu tư có dự án tại TP. HCM, Bình Dương. Tháng 3/2010, công ty này mua lại 99% vốn của Công ty TNHH Hai Thành trong một dự án tại Bình Trị Đông để xây dựng hơn 300 căn hộ. Cuối năm 2010, Công ty đã có sản phẩm tung ra thị trường. Nếu như từ khi lập dự án, triển khai, đến khi có sản phẩm bán ra thị trường mất ít nhất 3 - 5 năm, chọn cách đi trên, DN có thể quay vòng vốn nhanh, triển khai dự án dễ dàng hơn và ít chịu rủi ro. "Lợi nhuận thấp một chút nhưng không bị đọng vốn", ông Đặng Hoàng Huy, Chủ tịch HĐQT Công ty chia sẻ.
M&A lợi như vậy song không phải DN nào cũng có thể sử dụng hữu hiệu. Năm 2010, TTCK xuất hiện nhiều vụ lình xình của các DN niêm yết và thị trường biết đến các điểm yếu của những DN này vì người trong nhà "vạch áo cho người xem lưng". Đơn cử như các thương vụ thâu tóm tại CTCP Descon (DCC) mới đây, hay những chuyện ầm ĩ xung quanh vụ Dược Viễn Đông chào mua cổ phiếu Dược Hà Tây. Ở một số DN, M&A cũng chưa đem lại lợi ích đáng kể, thể hiện ngay trong kết quả kinh doanh của DN, trường hợp của Thủy sản Hùng Vương (HVG) và Thủy sản An Giang (AGF) là một ví dụ.
Năm 2011, TTCK được nhận định khó có sự tăng trưởng mạnh mẽ, M&A trái lại vẫn tiếp tục tăng trưởng trong thời gian kinh tế khó khăn, song được nhận định sẽ tập trung vào chất lượng hơn so với hiện nay.
| |
| Quách Tuyết Nhi - Hà Nội - nhihanoi@gmail.com |
Nhân viên chê mua cổ phần ưu đải!
Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngoài kinh doanh còn nhiệm vụ công ích và trong quá trình hoạt động có nhiều dự án đã được Nhà nước cấp vốn ngân sách và có nhiều dự án được ưu tiên vốn ODA. Với tỉ suất lợi nhuận cũng như tỉ lệ doanh thu trên vốn đầu tư của Tập đoàn Điện lực rất thấp chỉ đạt khoảng 45% trên vốn trong khi đó Tập đoàn VNPT có tỉ lệ doanh thu đạt hơn 80 % trên vốn đầu tư nhưng có số nhân viên chưa bằng một nửa số nhân viên của Tập đoàn Điện lực. Tuy nhiên đối với lĩnh vực viễn thông thiết bị nhanh lạc hậu phải khấu hao tài sản trong khoảng thời gian ngắn đồng thời quảng cáo chiếm tỉ lệ lớn của doanh thu và nếu mạng nhỏ phải mất gần 50% doanh thu cho kết nối ngoại mạng nên đầu tư mang tính rủi ro cao. Ngược lại lĩnh vực điện thiết bị ít lạc hậu có thể sử dụng thời gian dài có thể khấu hao tài sản dài bên cạnh độc quyền nên đồng vốn đầu tư rất an toàn. Nhân viên Công ty Viễn thông Điện lực tuy được mua cổ phần với giá ưu đải nhưng vẫn không muốn mua do đồng vốn đầu tư vào đây mang rủi ro quá lớn. Công ty Viễn thông Điện lực đỉnh cao doanh thu là năm 2008 với doanh thu 3800 tỷ nhưng tỉ lệ doanh thu trên đồng vốn đầu tư cũng chỉ ngang bằng mặt bằng chung đầu tư vào lĩnh vực điện trong khi các điện lực địa phương phải mất 30% thời gian cho công tác viễn thông. Với kết quả kinh doanh năm 2010, Công ty Viễn thông Điện lực doanh thu chỉ đạt 2800 tỷ trong đó doanh thu cột điện chiếm tỉ lệ lớn. Hiện nay Tập đoàn Điện lực mất phương hướng trong công tác viễn thông. Tuy viễn thông điện lực đã phát sóng 2500 nodeB vào giữa năm 2010 nhưng đến nay vẫn chưa đưa ra được phương án kinh doanh còn dự án 3G giai đoạn 2 các điện lực địa phương cũng như Công ty Viễn thông Điện lực không biết nên triển khai như thế nào và với điện lực địa phương đầu tư phần nào còn Công ty Viễn thông Điện lực đầu tư phần nào, đầu tư nodeB outdoor hay indoor, có đầu tư nhà trạm hay là sử dụng tủ BTS và nhất là đơn vị nào trả tiền thuê nhà trạm, tiền thuê đất cột anten. Chính chủ đầu tư không biết đầu tư như thế nào làm công trình kéo dài khiến nhà thầu không thể hoàn thành công trình để thanh toán tiền nên có nhiều phần hạng mục nhà thầu đành phải bỏ chạy. Như vậy nhân viên Công ty Viễn thông Điện lực không muốn mua cổ phần là chính đáng và chỉ có cải tổ bằng những hành động cụ thể mới đem lại niềm tin cho nhà đầu tư. |
Nhật ký mùa ĐHCĐ 2012 
